CHUYÊN MỤC / Nghiên cứu, trao đổi

Trao đổi về nhận thức khi áp dụng Công văn số 01/TANDTC-PC ngày 5/1/2026 của TAND Tối cao.

25/02/2026 | 12

Kể từ khi Luật quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2025. Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân Tối cao đã có nhiều văn bản hướng dẫn thi hành cụ thể

Công văn số 2982/VKSTC-V14 ngày 30/6/2025; Công văn số 1279/VKSTC-V14 ngày 25/3/2025 của VKSND tối cao; Công văn số 2172/ANĐT-P2 ngày 08/10/2025 của Cơ quan An ninh điều tra Bộ công an; Công văn số 2338/C01-P2 ngày 24/4/2025 của Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ công an và Công văn số 01/TANTC-PC ngày 05/01/2026 của Tòa án nhân dân tối cao. Tuy nhiên những công văn giải thích của các ngành Trung ương lại mâu thuẫn nhau về đường lối xử lý trong một số trường hợp cụ thể như:  Công văn số 4442 của Văn phòng CQCSĐT Bộ công an và Công văn số 2982 của Vụ 14 -VKSND tối cao quy định trường hợp “Đối tượng có hành vi sử dụng dao có tính chất sát thương cao thực hiện hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người kể từ ngày Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024 có hiệu lực thi hành” thì xử lý 02 Tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng và Tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe. Tuy nhiên tại tiết a điểm 1.2 nội dung 1 Công văn số 01 ngày 05/01/2026 của Tòa án nhân dân tối cao lại quy định “người thực hiện hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác dưới 11% và không có tình tiết định tội khác quy định tại khoản 1 Điều 134 của BLHS thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội chế tạo, tàng trữ…quy định tại Điều 304 BLHS, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại khoản 1 Điều 134 của BLHS”.

Trong phạm vi bài viết này tác giả phân tích, lập luận tại sao Công văn số 01 của TAND tối cao lại chỉ xử lý 01 tội mà không xử lý về 02 tội theo như văn bản hướng dẫn của Văn phòng CQCSĐT Bộ Công an và VKSND tối cao. Kể cả trong trường hợp thương tích của bị hại trên 11% nhưng vẫn không áp dụng tình tiết sử dụng dao có tính sát thương cao là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự hoặc những trường hợp phạm tội chưa đạt thì xử lý đối tượng nào trong vụ việc theo Điều 304 BLHS.

 

Danh mục dao có tính sát thương cao

 

Thứ nhất: Không áp dụng tình tình tiết cấu thành cơ bản hoặc định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với  dao có tính sát thương cao.  

- So sánh Điều 134 khoản 1 điểm a và Điều 304 của BLHS như sau

 Điều 134 khoản 1 điểm a quy định:

“Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30 % hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

  1. Dùng vũ khí…”

Điều 304 quy định:

“1. Người nào … sử dụng… vũ khí quân dụng…, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 07 năm…”.
         
- Theo hướng dẫn tại khoản 4 Điều 3 Nghị quyết số 03 ngày 09 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 304, Điều 305, Điều 306, Điều 307 và Điều 308 quy định:

“4. Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng,… quy định tại khoản 1 Điều 304 của BLHS là sử dụng vũ khí quân dụng…mà không có giấy phép hoặc không được phép của người hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm phát huy tác dụng của vũ khí, phương tiện đó. Ví dụ: hành vi sử dụng súng quân dụng là lên đạn, bóp cò; hành vi sử dụng lựu đạn là rút chốt, giật nụ xùy…”

- Theo từ điển tiếng Việt - Nhà xuất bản Đà nẵng năm 1997 trang 258 từ “Dùng- là động từ. Lấy vật liệu, phương tiện nhằm tạo ra cái gì, thực hiện việc gì. Ví dụ Dùng gỗ đóng bàn ghế…”; Trang 845 từ “Sử dụng- là động từ. Đem dùng vào mục đích nào đó ví dụ Sử dụng vật liệu, Sử dụng quyền hạn”. Theo ngữ pháp tiếng việt thì khi ta so sánh từ Dùng - Sử dụng thì hai từ này đồng nghĩa với nhau đôi khi có thể thay thế cho nhau. Từ “dùng” sẽ mang nét gần gũi hơn so với từ “sử dụng”.

Do đó, việc pháp luật quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 là “Dùng vũ khí…” với cấu thành cơ bản của Điều 304 “Người nào sử dụng …vũ khí quân dụng…” bản chất chỉ là một hành vi khách quan.  Rõ ràng ở đây đối tượng chỉ thực hiện duy nhất một hành vi khách quan của cấu thành cơ bản nhưng lại tồn tại ở hai tội độc lập, nhưng bị truy cứu trách nhiệm ở hai tội là không thỏa đáng. Chính vì vậy việc Công văn số 01 quy định trong trường hợp nếu đối tượng dùng dao có tính chất sát thương cao mà gây thương tích thì chỉ bị truy tố một tội là quy định tại Điều 304 trong trường hợp nếu thương tích dưới 11% (mà không có tình tiết khác của cấu thành cơ bản) hoặc trong trường hợp nếu thương tích trên 11% thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự 02 tội nhưng tình tiết “Dùng vũ khí…” vẫn không được coi là định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự là hoàn toàn hợp lý.

Thứ hai: Diện khởi tố trong vụ án có đồng phạm

Tại tiết a điểm 1.2 nội dung 1 của Công văn số 01 Tòa án nhân dân tối cao quy định “a) Người thực hiện hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác dưới 11% và không có tình tiết định tội khác quy định tại khoản 1 Điều 134 của BLHS thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội chế tạo, tàng trữ…quy định tại Điều 304 BLHS, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại khoản 1 Điều 134 của BLHS”.

Căn cứ vào quy định trên đối chiếu với vụ việc cụ thể sau: A , B và C chung nhau mỗi người 400.000 đồng để mua một con dao trên mạng trị giá 1.200.000 đồng. Cả ba đều thống nhất sẽ dùng con dao trên để đánh D nhằm trả thù.  Ngày 01.01.2026 A, B và C đã gặp D cả ba lao vào đánh D trong đó A dùng dao để chém D còn B và C thì dùng tay chân đánh. Kết quả giám định D bị tổn hại 10% sức khỏe trong đó có 7% sức khỏe là do dao gây ra. Kết quả giám định con dao xác định là Dao có tính sát thương cao (Thuộc Phụ lục 5 – Danh mục dao có tính sát thương cao của Thông tư số 75 - Bộ trưởng Bộ công an). D không có đơn yêu cầu khởi tố và vụ việc không có tình tiết cấu thành cơ bản nào khác. Một vấn đề pháp lý nảy sinh ở đây trong trường hợp này thì truy cứu trách nhiệm hình sự cả A, B và C về Điều 304 hay chỉ truy tố duy nhất A theo Điều 304 của BLHS.

 

Danh mục dao có tính sát thương cao

Quan điểm thứ nhất cho rằng cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự cả A, B và C theo Điều 304 bởi vì theo Điều 17 của BLHS quy định “1. Đồng phạm là trường hợp có từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”. Ở đây cả A, B và C đều chung tiền và thống nhất mua dao để dùng gây thương tích cho D. Việc A dùng dao là thực hiện theo đúng thỏa thuận đã thống nhất từ trước của B và C, hành vi của A cũng không thuộc trường hợp vượt quá của sự thỏa thuận. Vì vậy cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự cả A, B và C theo Điều 304 thì mới thỏa mãn, công bằng và đúng với quy định của pháp luật.

Quan điểm của tác giả: Trong trường hợp này chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với A theo Điều 304 mà không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với B và C theo Điều 304 bởi vì:

Việc A, B và C thống nhất dùng dao để gây thương tích cho D là hoàn toàn đúng và A đã thực hiện đúng cam kết thỏa thuận với B và C. Nhưng chúng ta đã biết Dao là một loại vật lưỡng dụng có trong đời sống hàng ngày. Dao chỉ coi là vũ khí quân dụng, nghĩa là thay đổi tính năng, tác dụng tại thời điểm mà A dùng dao gây thương tích cho bị hại.

Theo từ điển tiếng việt trang 407 nhà xuất bản Đà nẵng ban hành năm 1997 thì Hành vi là một danh từ chỉ toàn bộ nói chung những phản ứng cách cư xử biểu hiện ra ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định. Tức là Hành vi là những hành động và cách cư xử của cá nhân trong mối quan hệ với chính họ hoặc môi trường xung quanh. Hành vi có thể được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động, và có thể là tự nguyện hoặc không tự nguyện.

Căn cứ vào Từ điển tiếng việt đối chiếu với quy định tại Công văn số 01 của Tòa án tối cao quy định: “Người thực hiện hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác…”. Như vậy chúng ta phải hiểu chỉ duy nhất người thực hiện hành vi sử dụng dao tức là A mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 304 trong vụ việc trên còn B và C sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 304 của BLHS.

Thứ ba: Diện khởi tố đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội:

Tại tiết c điểm 1.2 của Công văn số 01 quy định: “Người thực hiện hành vi chuẩn bị dao có tính sát thương cao nhằm mục đích gây thương tích, tổn hại cho sức khỏe của người khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự quy định tại Điều 304 của BLHS, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm mà không truy cứu trách nhiệm sự về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại khoản 6 Điều 134”.

Theo quy định tại Điều 14 của BLHS thì chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm và người chuẩn bị phạm tội theo Điều 134 của BLHS thì phải chịu trách nhiệm hình sự.

Theo hướng dẫn tại Công văn số 01 đối chiếu với vụ việc được nêu trong ví dụ trên chúng ta cần phải làm rõ ai là người khởi xướng ý tưởng sẽ góp tiền để mua dao. Giả thiết quá trình điều tra đã làm rõ A là người khởi xướng việc mua dao thì sẽ xem xét xử lý A theo Điều 304 của BLHS. Bởi theo Công văn số 233 ngày 01/10/2019 thì trường hợp này của A thực hiện 01 hành vi nhưng thỏa mãn dấu hiệu cấu thành của nhiều tội phạm (Khoản 6 Điều 134 và Điều 304) thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nặng hơn tức là A bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 304 của BLHS. Mặt khác chúng ta quay lại xem đối với quy định tại tiết a phần 1.2 như nêu ở phần trên. Trong đó tại tiết a hậu quả thương tích cho bị hại đã xẩy ra, lớn hơn so với giai đoạn chuẩn bị phạm tội vì giai đoạn này chưa có thương tích của bị hại. Nhưng quy định cũng chỉ xử lý riêng một mình đối tượng đã trực tiếp dụng dao gây thương tích cho bị hại theo Điều 304 BLHS.

Vậy có xem xét xử lý đối với B và C theo khoản 6 Điều 134 BLHS không? Trong trường hợp này thì không thể xử lý đối với B và C theo khoản 6 Điều 134 của BLHS được bởi vì:

Khoản 6 Điều 134 quy định “ Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a – xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức của  người khác…”. Tức là khoản 6 này là một cấu thành cơ bản độc lập trong điều 134 mà chỉ có 07 dạng: (1) Vũ khí; (2) vật liệu nổ; (3) hung khí nguy hiểm; (4) a-xít nguy hiểm; (5) hóa chất nguy hiểm; (6) thành lập nhóm tội phạm và (7) tham gia nhóm tội phạm. Khi hành vi của các đối tượng có thể thỏa mãn ít nhất 1 trong 7 cấu thành cơ bản này  thì mới xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự.

Trong ví dụ trên thì hành vi của A + B + C chỉ thỏa mãn một yếu tố cấu thành (Vũ khí) ngoài ra không còn yếu tố cấu thành cơ bản nào khác. Trong khi đó A đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 304 vì yếu tố Vũ khí rồi, đương nhiên yếu tố cấu thành cơ bản trong trường hợp này theo khoản 6 Điều 134 sẽ không còn thỏa mãn vì không còn Vũ khí. Mặt khác so sánh điểm c trong Công văn 01 với điểm a và b thì trường hợp A đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 304 thì yếu tố dùng vũ khí sẽ không là một trong cấu thành cơ bản hoặc tăng nặng định khung hình phạt của khoản 1, khoản 2 và khoản 3, khoản 4 khoản 5 của Điều 134. Do đó xẽ không thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với B + C theo khoản 6 Điều 134 của BLHS là phù hợp và đúng với tinh thần của Công văn số 01.

Trên đây là quan điểm của tác giả rất mong các bạn đọc và đồng nghiệp cùng nghiên cứu và trao đổi.

Nguyễn Minh Tiến – Viện KSND Khu vực 2 Hưng Yên


Thông tin nội bộ