Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 được Quốc Hội thông qua ngày 30/11/2024 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2006 (sau đây gọi tắt là Luật TPNCTN). Theo quy định tại Điều 2 Luật TPNCTN quy định “Việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, giải quyết án hình sự, xử lý chuyển hướng, thi hành án phạt tù, tái hòa nhập cộng động với người chưa thành niên được áp dụng theo quy định của Luật này và theo quy định của Bộ luật Hình Sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật thi hành án hình sự, luật khác không trái với quy định của Luật này”. Việc quy định xử lý người chưa thành niên tại nhiều ngành luật, bộ luật như Luật hình sự; Tố tụng hình sự; Luật thi hành án hình sự; luật thi hành án dân sự; luật trợ giúp pháp lý; luật cư trú dẫn đến nhưng khó khăn nhất định trong việc áp dụng các quy phạm pháp luật, do phải phải tra cứu, đối chiếu, so sánh cùng một lúc các quy định về tội danh, thời hiệu, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, hình phạt, việc tr
1.Về thời hạn được coi là chưa bị áp dụng biện pháp chuyển hướng.
1.1 So sánh về trách nhiệm pháp lý:
Theo khoa học pháp lý, việc phân loại vi phạm pháp luật dựa vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm. Do vậy, hành vi vi phạm pháp luật được phân loại và chia làm 04 loại cụ thể:
Vi phạm hình sự: Là tội phạm, đây là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội được quy định cụ thể trong Bộ luật Hình sự.
Vi phạm hành chính: Là hành vi trái với các quy định của pháp luật về quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm hoặc trái với các quy định của pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự.
Vi phạm dân sự: Là hành vi trái pháp luật xâm phạm quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân gắn với tài sản, quan hệ nhân thân phi tài sản.
Vi phạm kỷ luật: Là hành vi vi phạm với các quy chế, quy tắc được xác lập trật tự trong nội bộ một cơ quan, tổ chức.
Về trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm pháp luật: Là hậu quả pháp lý bắt buộc đối với chủ thể vi phạm, họ phải chịu một biện pháp cưỡng chế bắt buộc và tùy theo mỗi loại vi phạm pháp luật tương ứng. Trong đó trách nhiệm hình sự là một biện pháp cưỡng chế hà khắc nhất, xong đến trách nhiệm hành chính là biện pháp cưỡng chế thứ hai…Tuy nhiên khi một người vi phạm pháp luật họ đã thực hiện xong trách nhiệm hình sự hoặc trách nhiệm hành chính thì sau một khoảng thời gian nhất định mà luật quy định họ sẽ được xóa án tích hoặc được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính như sau:
Khoản 2 Điều 70 BLHS quy định:
“2.Người bị kết án đương nhiên được xóa án tính…
- 01 năm trong trường hợp phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù cho hưởng án treo…”
Điều 137 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2025 quy định:
“1.Người chưa thành niên được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nếu trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt mà không tái phạm.
2.Người chưa thành niên bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính nếu trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử lý hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử lý mà không tái phạm thì được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính”.
Khi so sánh Luật TPNCTN và Luật xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi của người chưa thành niên thì thấy rằng: Hành vi và hậu quả gây ra cho xã hội của người chưa thành niên do Luật TPNCTN điều chỉnh sẽ nguy hiểm và lớn hơn so với hành vi và hậu quả của người chưa thành niên được điều chỉnh bởi Luật xử lý vi phạm hành chính. Bởi vì:
- Hành vi của người chưa thành niên theo Luật TPNCTN là hành vi tội phạm, các biện pháp xử lý chuyển hướng xuất phát từ cái gốc là hành vi tội phạm, tại thời điểm áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng này thì họ đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tư cách là bị can, bị cáo.
- Việc xử lý hành chính đối với người chưa thành niên theo Luật xử lý vi phạm hành chính xuất phát từ cái gốc là hành vi vi phạm hành chính. Theo Luật xử lý vi phạm hành chính khi người vi phạm đã thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ của quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc quyết định xử lý vi phạm hành chính thì ít nhất là 06 tháng hoặc 01năm kể từ ngày thi hành xong biện pháp xử lý vi phạm hành chính họ mới được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
Đến đây nảy sinh xung đột pháp lý, cùng là một người chưa thành niên có hành vi vi phạm pháp luật hành chính thì lại bị xử lý nặng hơn so với người vi phạm pháp luật hình sự, trong khi một người có hành vi nguy hiểm hơn và hậu quả lớn hơn thì lại nhẹ hơn. Do Luật TPNCTN không có điều luật nào quy định kể từ khi chấp hành xong biện pháp xử lý chuyển hướng thì trong thời hạn bao nhiêu lâu thì được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng.
.jpg)
1.2 Việc xác định tiền sự:
Theo quy định tại khoản 7 Điều 12 Luật TPNCTN quy định
“7.Án đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội nếu thuộc trường hợp sau đây thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm
a) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội;
b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng hoặc tội rất nghiêm trọng.”
Với quy định trên chúng ta có thể hiểu rằng việc xác định Tái phạm hoặc Tái phạm nguy hiểm chỉ áp dụng trong trường hợp áp dụng hình phạt tức là Hội đồng xét xử có một bản án cụ thể tuyên bố một người chưa thành niên bị phạt một trong hình phạt mà Điều 32 BLHS. Chúng ta hiểu ngược lại là Tái phạm và Tái phạm nguy hiểm không áp dụng đối với Biện pháp xử lý chuyển hướng.
Vận dụng tinh thần tham khảo Nghị Quyết số 01-HĐTP năm 1990 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (hết hiệu lực ngày 01/07/2016), thì tiền án, tiền sự được nêu như sau:
- Người đã được xóa án thì không coi là có tiền án.
- Người đã được xóa kỷ luật, xóa việc xử phạt vi phạm hành chính (tức là đã được coi như chưa bị kỷ luật, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính) thì không coi là có tiền sự.
Một vấn đề mâu thuẫn đã phát sinh: Trong trường hợp một người đang bị áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng; hoặc đang chấp hành một phần; hoặc vừa chấp hành xong mà phạm tội mới thì việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng lại không được coi là Tiền sự. Trong khi đó cũng một người có độ tuổi như vậy bị xử phạt hoặc xử lý vi phạm hành chính thì họ phải chấp hành xong ít nhất là 06 tháng hoặc 01 năm kể từ ngày thi hành xong quyết định xử phạt hoặc quyết định xử lý vi phạm hành chính, trong khoảng thời hạn trên nếu họ vi phạm thì sẽ bị coi là có Tiền Sự. Như vậy một người cùng độ tuổi có vi phạm hành chính thì trách nhiệm pháp lý lại nặng hơn so với người có hành vi vi phạm pháp luật hình sự.
1.3 Việc không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng:
Theo quy định tại khoản 3 Điều 38 Luật TPNCTN quy định không được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng trong trường hợp sau:
“Người chưa thành niên đã được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng mà phạm tội mới”
Cũng từ sự phân tích trên do không có quy định cụ thể sau khi chấp hành xong biện pháp xử lý chuyển hướng trong thời hạn bao nhiêu lâu thì được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng. Vì vậy đã nảy sinh việc áp dụng bất lợi cho người chưa thành niên phạm tội mới vì không có quy định cụ thể thời hạn được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng.
2. Thời hiệu thi hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng
Theo quy định tại Điều 71 - Thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Luật xử lý vi phạm hành chính quy định:
“1. Thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, kể tư ngày ra quyết định, quá thời hạn này thì không thi hành quyết định đó nữa…
Điều 60 - thời hiệu thi hành bản án của BLHS quy định
“1.Thời hiệu thi hành bản án hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó người,.. bị kết án không phải chấp hành bản án đã tuyên
2.Thời hiệu thi hành bản án hình sự đối với người bị kết án được quy định như sau:
a) 05 năm đối với trường hợp xử phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc xử phạt tù từ 03 năm trở xuống…”
Với quy định trên ngay trong BLHS và Luật xử lý vi phạm hành chính thì thời hiệu thi hành Bản án và Quyết định định xử lý vi phạm hành chính đều được đặt ra.
Tuy nhiên Luật TPNCTN lại không có quy định về Thời hiệu thi hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng cụ thể:
Khoản 2 và khoản 3 Điều 56 Luật TPNCTN quy định:
“2. Quyết định về việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng có hiệu lực thi hành kể từ ngày công bố…”
3. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày công bố Quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án thực hiện như sau:
c) Giao quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng… cho UBNC cấp xã nơi người chưa thành niên cư trú…”
Điểm a khoản 1 Điều 73 Luật TPNCTN quy định:
1. Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng cư trú có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tổ chức thi hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng…”
Khoản 1 Điều 74 Luật TPNCTN quy định:
“1. Thời hạn chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng quy định tại các khoản 1,2,3,4,5,6,7.8 và 11 Điều 36 của Luật này được tính từ ngày người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng có mặt tại trụ sở UBND cấp xã để nghe thông báo về việc thi hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng…”
Trong thực tiễn có trường hợp sau khi một trong các cơ quan tiến hành tố tụng công bố quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng nhưng quên không gửi cho UBND cấp xã, hoặc trường hợp UBND cấp xã nhận được quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng nhưng không tiến hành công bố cho người chấp hành biện pháp xử chuyển hướng. Như vậy vấn đề thời hiệu của quyết định trong trường hợp này được đặt ra. Nhưng trong Luật TPNCTN lại không có một điều luật nào quy định về thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng.
Trên đây là một số vướng mắc theo quan điểm của tác giả, rất mong các bạn đọc và đồng nghiệp cùng nghiên cứu và trao đổi.
Nguyễn Minh Tiến
Viện KSND khu vực 2 – Hưng Yên