Khi một người phạm tội và bị kết án bởi bản án hình sự có hiệu lực pháp luật, họ sẽ có án tích. Án tích tồn tại trong suốt quá trình người phạm tội bị kết án về một tội phạm cho đến khi được xoá án tích.
Xoá án tích là một chế định mang tính nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam, thể hiện sự thừa nhận của Nhà nước về mặt pháp lý việc người bị kết án đã đủ điều kiện theo luật định để được coi là không có án tích, góp phần thực hiện chính sách tái hòa nhập cộng đồng cho người phạm tội.
Thời gian gần đây, có những vụ án mà bị can, bị cáo thực hiện hành vi đơn giản, phạm tội quả tang thế nhưng quá trình hoạt động của bị can, bị cáo lại có nhiều tiền án, tiền sự, nhân thân phức tạp dẫn đến khó khăn, vướng mắc khi xác định việc thực hiện các nội dung trong những bản án cũ mà bị can, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân tuyên phạt. Trong thực tiễn công tác cho thấy, việc xác định tiền án, tiền sự, nhân thân của bị can, bị cáo là rất cần thiết phục vụ cho việc định tội, định khung hình phạt và xác định tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Theo quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Hình sự (BLHS), có hai hình thức xóa án tích: Đương nhiên xóa án tích và xóa án tích theo quyết định của Tòa án. Trong phạm vi bài viết này tác giả chỉ đề cập đến hình thức “Đương nhiên xóa án tích” theo quy định tại Điều 70 BLHS và chủ thể của việc đương nhiên xóa án tích không thuộc quy định tại khoản 2 Điều 69 và Điều 107 BLHS.
Khoản 1 Điều 70 BLHS quy định như sau: “Đương nhiên được xóa án tích được áp dụng đối với người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.” Trong trường hợp này, nếu bị can, bị cáo trước đây đã từng bị Tòa án tuyên phạm các tội xâm phạm an ninh quốc gia quy định từ Điều 108 đến Điều 121 BLHS và phạm các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh quy định từ Điều 421 đến Điều 425 BLHS thì không được xét đương nhiên xóa án tích. Vì vậy, đối với người bị kết án không phải về các tội như đã nêu trên đương nhiên được xóa án tích nếu họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng đầy đủ các điều kiện mà khoản 2, 3 Điều 70 BLHS quy định. Thời hiệu thi hành bản án hình sự được quy định tại Điều 60 BLHS.
Khoản 2, 3 Điều 70 BLHS quy định như sau:
“2. Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:
a) 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;
b) 02 năm trong trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;
c) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;
d) 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.
Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại các điểm a, b và c khoản này thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.
3. Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này.”
Tình huống pháp lý: Ngày 05/10/2017, tại bản án số 17/2017/HS-ST, Nguyễn Văn A bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh C tuyên phạt 01 năm tù về tội Cố ý gây thương tích, A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị D số tiền 20.000.000 đồng. Thời hạn tù tính từ ngày 01/9/2017. Đến ngày 01/4/2025, Nguyễn Văn A bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh C xét xử về tội Trộm cắp tài sản (thời điểm phạm tội vào ngày 01/01/2025). Quá trình điều tra xác định Nguyễn Văn A chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/9/2018; đã thi hành xong khoản án phí 200.000 đồng tại Chi cục THADS huyện B, tỉnh C nhưng chưa thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho chị Nguyễn Thị D số tiền 20.000.000 đồng vì lý do chị Nguyễn Thị D không có đơn yêu cầu gửi đến Chi cục THADS huyện B nên Chi cục THADS không ra quyết định THA đối với khoản tiền này.
- Quan điểm thứ nhất: Căn cứ Nguyễn Văn A đã chấp hành xong hình phạt chính vào ngày 01/9/2018; đã thực hiện xong khoản án phí hình sự sơ thẩm; đối với khoản bồi thường dân sự là 20.000.000 đồng mà A phải bồi thường cho chị D thì chị D không có đơn yêu cầu Chi cục THADS huyện B nên căn cứ vào khoản 1 Điều 30 Luật Thi hành án dân sự, tính đến ngày phạm tội mới là ngày 01/01/2025 đã vượt quá 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định của TAND có hiệu lực nên coi như đã hết hiệu lực thi hành quyết định này. Do đó, căn cứ vào nguyên tắc có lợi cho bị can, bị cáo nên xác định A đã chấp hành xong đầy đủ các nội dung trong bản án số 17/2017/HS-ST, trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù (ngày 01/9/2018) Nguyễn Văn A không phạm tội mới nên xác định A đương nhiên được xóa án tích
- Quan điểm thứ hai và cũng là quan điểm của tác giả: Nguyễn Văn A chưa được tính là xóa án tích, về vấn đề xác định việc chấp hành xong án phạt tù, thi hành án phí hình sự, thời hạn tính đương nhiên được xóa án tích giống với quan điểm thứ nhất. Tuy nhiên, đối với việc bồi thường cho bị hại trong bản án số 17/2017/HS-ST lại có quan điểm khác đối với quan điểm trên bởi lẽ:
Một là, việc thi hành số tiền bồi thường không những là nghĩa vụ của người bị kết án mà còn là quyền lợi của người bị kết án vì người bị kết án có thể chủ động thực hiện việc bồi thường, sau khi thực hiện xong thì sẽ được xem xét đương nhiên xóa án tích, người bị kết án đã biết về việc bản thân phải thi hành số tiền này, sau khi chấp hành án phạt tù xong vẫn còn 01 khoảng thời gian dài nhưng người bị kết án vẫn cố tình không thực hiện.
Hai là, quan điểm về khoản 1 Điều 30 Luật thi hành án dân sự về việc thời hạn thi hành bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án là 05 năm, ở đây được hiểu là trong khoảng thời gian 05 năm thì nếu như có đơn yêu cầu của người được thi hành án hoặc đơn yêu cầu của người phải thi hành án thì Cơ quan Thi hành án dân sự sẽ ra quyết định và tổ chức việc thi hành đối với quyết định này của Tòa án. Ngoài khoảng thời gian 05 năm ra thì Cơ quan THADS sẽ không tổ chức thi hành nữa nhưng quyền lợi và nghĩa vụ của người phải thi hành và người được thi hành vẫn còn.
Ba là, căn cứ theo Mục số 3 công văn số 154B ngày 11/8/2023 của Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao trả lời Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bình Dương như sau: “Bộ luật Hình sự không quy định trường hợp loại trừ việc người bị kết án chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án với bất kỳ lý do gì. Do vậy, người bị kết án nếu hết thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự mà chưa thực hiện xong nghĩa vụ thì cũng được coi là chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án. Trong trường hợp này người bị kết án không đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại Điều 70 Bộ luật Hình sự.”
Vừa rồi tác giả đã nêu ra dẫn chứng về chủ thể, điều kiện cần và đủ để được xem xét đương nhiên xóa án tích. Tuy nhiên, trong trường hợp người bị kết án chưa được xóa án tích mà lại bị TAND kết án bằng bản án mới có hiệu lực pháp luật thì cách tính thời hạn xóa án tích như thế nào?
Điều 73 BLHS quy định về cách tính thời hạn để xóa án tích như sau:
“1. Thời hạn để xóa án tích quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật này căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên.
2. Người bị kết án chưa được xóa án tích mà thực hiện hành vi phạm tội mới và bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì thời hạn để xóa án tích cũ được tính lại kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo của bản án mới hoặc từ ngày bản án mới hết thời hiệu thi hành.
3. Người bị kết án trong trường hợp phạm nhiều tội mà có tội thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích, có tội thuộc trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án thì căn cứ vào thời hạn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với người đó.
4. Người được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại cũng được coi như đã chấp hành xong hình phạt.”
Tình huống pháp lý: Ngày 13/6/2025, Nguyễn Văn A thực hiện hành vi phạm tội Trộm cắp tài sản. Ngày 26/9/2025, A bị Tòa án nhân dân khu vực X, tỉnh Y xét xử. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử xác định như sau
- Bản án số 55 ngày 08/3/2006, A bị TAND quận CG, thành phố H xử phạt 01 năm tù về tội: Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản 10.500.000 đồng), áp dụng khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999. Chấp hành xong bản án tháng 08/11/2006.
- Bản án số 31 ngày 26/11/2008, A bị TAND huyện HB, tỉnh Q xử phạt 3 năm tù về tội: Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản 50.940.000 đồng), áp dụng điểm g khoản 1 Điều 48 (Tái phạm), điểm e khoản 2 Điều 138 BLHS năm 1999. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/9/2011.
- Bản án số 28 ngày 05/3/2013 của TAND huyện T, tỉnh P xử phạt 07 năm tù, về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, áp dụng điểm p khoản 2 Điều 194 BLHS năm 1999 (Tái phạm nguy hiểm). Chấp hành xong bản án ngày 01/3/2019.
- Bản án số 208 ngày 20/12/2019 của TAND huyện T, tỉnh P xử phạt 02 năm 9 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản, áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS năm 2015 (Tái phạm nguy hiểm); Chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/6/2022.
- Tất cả các bản án trên Nguyễn Văn A đều đã thực hiện xong án phí và các quyết định khác có trong bản án.
+ Quan điểm thứ nhất: Căn cứ theo khoản 2 Điều 73 BLHS, thời hạn xóa án tích của bản án số 55 được tính là 02 năm kể từ ngày chấp hành xong bản án sau đó liền kề là bản án số 31 (tính từ ngày 29/9/2011); tương tự như vậy bản án số 31 cũng được tính là xóa án tích sau 02 năm kể từ ngày 01/3/2019. Vì vậy xác định Nguyễn Văn A còn 02 tiền án theo bản án số 28 và bản án số 208.
+ Quan điểm thứ hai và cũng là quan điểm của tác giả: xác định Nguyễn Văn A chưa được xóa án tích nào cả, tại thời điểm xét xử vẫn còn 04 tiền án như đã nêu trên bởi lẽ:
Một là, theo từ điển Luật học xuất bản năm 1999- Nhà xuất bản từ điển Bách khoa (trang số 16) thể hiện “Án tích” có nghĩa là dấu vết về án hình sự của người đã bị xử và chưa được xóa án được ghi vào một quyển sổ gọi là lí lịch tư pháp để sau này, trong một số trường hợp cần xem xét để đánh giá đạo đức hạnh kiểm, thái độ với pháp luật.
Hai là, để đánh giá chính xác, khách quan về quá trình hoạt động, lý lịch của người bị kết án đã từng bị xử phạt như thế nào, chúng ta phải coi các tiền án mà chưa được xóa án tích là một tổng thể (chuỗi mắt xích).
Ba là, theo quan điểm của tác giả, khi xem xét bản án trước và bản án sau, chúng ta chỉ tính người bị kết án được xóa án tích khi mà thỏa mãn điều kiện: đã chấp hành xong hình phạt chính của bản án sau cùng, các quyết định khác của tất cả các bản án trong “chuỗi mắt xích” và phải đảm bảo thời hạn kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính của bản án sau cùng theo quy định tại khoản 2 Điều 70 BLHS.
Từ những căn cứ nêu trên, điều kiện để Nguyễn Văn A được xóa án tích phải được tính thời hạn 03 năm kể từ ngày 26/6/2022. Đến ngày 13/6/2025, Nguyễn Văn A lại phạm tội mới nên xác định A vẫn còn 04 tiền án như đã nêu trên
Trên đây là quan điểm của tác giả rất mong các đồng nghiệp cùng nghiên cứu, trao đổi.
Phạm Thanh Hoàng - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Hưng Yên