Qua công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm; kiểm sát điều tra; thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án về thuế, trên địa bàn xã Lạc Đạo, xã Như Quỳnh và xã Đại Đồng, tỉnh Hưng Yên, đặc biệt là các tội Trốn thuế (Điều 200 Bộ luật Hình sự), Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 221 Bộ luật Hình sự) và các tội phạm có liên quan đến việc sử dụng hóa đơn, chứng từ trong hoạt động kinh doanh, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên nhận thấy: Trong khoảng thời gian từ năm 2020 đến năm 2025, các đối tượng trong các vụ án đã có hành vi không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp; sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp để hạch toán hàng hóa, nguyên liệu đầu vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp, tăng số tiền thuế được khấu trừ; khai man tài liệu kế toán hoặc lập hai hệ thống sổ sách kế toán tài chính trở lên nhằm bỏ ngoài sổ kế toán tài sản, nguồn vốn, kinh phí của đơn vị để trốn thuế, gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước tổng số tiền gần 650 tỷ đồng. Đáng chú ý là hành vi vi phạm trên đã diễn ra trong khoảng thời gian khá dài nhưng không được cơ quan chức năng phát hiện kịp thời dẫn đến số tiền thất thoát cho ngân sách Nhà nước lớn, làm ảnh hưởng đến sự cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Bên cạnh nguyên nhân xuất phát từ ý thức chấp hành pháp luật của một số tổ chức, cá nhân, còn tồn tại những sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý nhà nước về thuế, tạo điều kiện để các đối tượng lợi dụng thực hiện hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm. Cụ thể:
1. Công tác quản lý người nộp thuế còn có những hạn chế: Việc rà soát, phân loại người nộp thuế theo mức độ rủi ro chưa được thực hiện thường xuyên; việc 2 theo dõi doanh nghiệp mới thành lập, doanh nghiệp ngừng hoạt động, doanh nghiệp có dấu hiệu bỏ địa chỉ kinh doanh hoặc thay đổi người đại diện theo pháp luật nhiều lần chưa thật sự chặt chẽ. Một số doanh nghiệp có dấu hiệu rủi ro cao vẫn phát sinh doanh thu, hóa đơn và giao dịch lớn trong thời gian dài nhưng chưa được đưa vào diện kiểm tra, thanh tra kịp thời.
2. Công tác quản lý hóa đơn điện tử còn có những bất cập: Việc phân tích dữ liệu hóa đơn điện tử để phát hiện các giao dịch bất thường, doanh nghiệp có doanh số tăng đột biến, xuất hóa đơn không phù hợp với quy mô hoạt động hoặc có dấu hiệu mua bán hóa đơn chưa thực sự hiệu quả. Việc cảnh báo sớm đối với các doanh nghiệp có rủi ro cao còn chậm, dẫn đến nhiều hành vi vi phạm chỉ được phát hiện sau khi đã gây thiệt hại lớn cho ngân sách nhà nước.
3. Công tác thanh tra, kiểm tra thuế chưa đáp ứng yêu cầu: Nguồn lực thanh tra, kiểm tra còn hạn chế; việc lựa chọn đối tượng thanh tra chủ yếu theo kế hoạch định kỳ, trong khi nhiều doanh nghiệp có dấu hiệu vi phạm chưa được kiểm tra đột xuất. Việc đối chiếu giữa hồ sơ khai thuế, báo cáo tài chính, dữ liệu hóa đơn điện tử và hoạt động thực tế của doanh nghiệp còn chưa toàn diện.
4. Công tác phối hợp trao đổi thông tin giữa các cơ quan có lúc chưa kịp thời: Việc trao đổi thông tin giữa cơ quan thuế với cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan công an, ngân hàng, hải quan và các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc xác minh doanh nghiệp có dấu hiệu vi phạm còn có thời điểm chưa kịp thời; Một số dấu hiệu bất thường về dòng tiền, hóa đơn hoặc kê khai thuế chưa được chia sẻ ngay để phục vụ công tác quản lý và phòng ngừa.
5. Công tác tuyên truyền, hướng dẫn pháp luật về thuế chưa thường xuyên: Một bộ phận doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp còn hạn chế trong nhận thức pháp luật về thuế, kế toán và hóa đơn điện tử; Việc hướng dẫn các quy định mới của pháp luật về thuế chưa bao quát hết các đối tượng có nguy cơ vi phạm.
Trên cơ sở chức năng nhiệm vụ của Thuế tỉnh Hưng Yên trong công tác quản lý nhà nước về thuế trên địa bàn. Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về thuế, góp phần phòng ngừa vi phạm và tội phạm về thuế trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới, ngày 30/7/2026, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên đã ban hành Kiến nghị số 21/KN-VKS-P3 đối với ông Trưởng Thuế tỉnh Hưng Yên, đề nghị tổ chức thực hiện tốt một số nội dung, cụ thể:
- Tăng cường công tác phân tích dữ liệu quản lý thuế, dữ liệu hóa đơn điện tử nhằm kịp thời phát hiện doanh nghiệp có dấu hiệu rủi ro cao để áp dụng các biện pháp quản lý phù hợp.
- Thường xuyên rà soát các doanh nghiệp mới thành lập; doanh nghiệp có dấu hiệu không hoạt động tại địa chỉ đăng ký; doanh nghiệp thay đổi người đại 3 diện theo pháp luật nhiều lần; doanh nghiệp có doanh thu, số lượng hóa đơn phát sinh bất thường để kiểm tra, xác minh.
- Nâng cao chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra thuế theo phương pháp quản lý rủi ro; tăng cường kiểm tra chuyên đề đối với các lĩnh vực có nguy cơ thất thu thuế cao.
- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo và các công cụ phân tích dữ liệu lớn trong việc nhận diện các dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế, sử dụng hóa đơn không hợp pháp.
- Tăng cường phối hợp với Công an tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh và các cơ quan có liên quan trong việc trao đổi thông tin, xác minh các dấu hiệu vi phạm, kịp thời chuyển hồ sơ khi phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm theo quy định của pháp luật.
- Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về thuế, kế toán, hóa đơn điện tử; hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện đúng chế độ kế toán, kê khai và nộp thuế; kịp thời cảnh báo các phương thức, thủ đoạn phạm tội mới trong lĩnh vực thuế.
- Tổ chức kiểm điểm, rút kinh nghiệm đối với những sơ hở trong công tác quản lý (nếu có), đồng thời xây dựng các giải pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về thuế trên địa bàn tỉnh.
Trần Thị Là – Phòng 3 Viện KSND tỉnh Hưng Yên