CHUYÊN MỤC / Hoạt động kiểm sát

Phạm tội chưa đạt đối với Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

05/01/2026 | 82

Thực tiễn trong thời gian vừa qua có nhiều trường hợp bị can có hành vi gian dối sử dụng giấy tờ xe mô tô hoặc ô tô hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả mang đi thực hiện các giao dịch dân sự như cầm cố, thế chấp, bán hoặc chuyển quyền sử dụng đất.

Do tin tưởng vào sự cam đoan nên các bị hại đã giao tiền cho bị can, có trường hợp đã giao hết tiền (thông thường xảy ra đối với những trường hợp mua bán xe mô tô hoặc ô tô); nhưng cũng có trường hợp chỉ giao một phần tiền (thông thường xảy ra đối với những trường hợp chuyển nhượng quyền sử dụng đất), phần tiền còn lại sẽ được chuyển trả sau khi làm xong thủ tục. Đối với những trường hợp mà bị hại đã trả hết tiền theo giá thỏa thuận thì không có gì vướng mắc. Nhưng có vụ việc bị hại chỉ mới thanh toán một phần tiền, phần tiền còn lại sẽ được trả hết sau khi làm xong thủ tục. Khi các bên tham gia giao dịch xong thủ tục công chứng và chuyển hồ sơ đến Văn phòng đăng ký đất đai thì phát hiện Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giả nên hồ sơ đã được chuyển đến Cơ quan điều tra. Có quan điểm cho rằng chỉ truy tố theo khung hình phạt tương ứng với số tiền mà bị hại đã chuyển cho bị can. Có quan điểm cho rằng cần truy tố bị can theo khung hình phạt tương ứng với số tiền đã cam kết vì trường hợp này là phạm tội chưa đạt. Có quan điểm cho rằng bị can không phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (đối với trường hợp bị hại chưa giao tiền- chỉ khởi tố về tội Sử dụng con dấu, tài liệu giả) vì tội Lừa đảo có cấu thành vật chất. Qua vụ án cụ thể đơn vị đang thụ lý giải quyết dưới đây.

 

Điển hình vật chứng được thu giữ

 

Đầu năm 2025, P có nhu cầu vay 1.000.000.000 đồng tại Ngân hàng nhưng do không có tài sản thế chấp nên P đã nảy sinh ý định thuê người làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả đối với thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh D (là em trai của P) đang thế chấp tại ngân hàng. Tháng 6 năm 2025, P thuê đối tượng (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng số AA002385562 mang tên P. Thông tin thửa đất số 1811, tờ bản đồ số 22, diện tích 170m2, loại đất ở tại nông thôn; Thời hạn sử dụng lâu dài; Hình thức sử dụng riêng chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai khu vực Y cấp, có chữ ký, dấu tròn đỏ của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H.Y dấu chức danh Phó giám đốc N. V với số tiền 40.000.000 đồng. Qua quen biết với chị Bùi Thị H. P đã nhờ chị H thế chấp lô đất trên để vay 1 tỷ đồng trong thời hạn 5 năm. Ngày 18/8/2025, chị H gọi cho anh Bùi Văn T (là bạn của H làm trong lĩnh vực mua bán bất động sản) và các bên đã thỏa thuận đồng ý. Anh T cho P vay 1 tỷ đồng trong thời hạn 5 năm nhưng phải làm Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng lô đất trên. Ngày 26/8/2025 các bên đã đến Văn phòng công chứng để Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lô đất trên mang tên P, đồng thời anh T chuyển trước cho P số tiền 300.000.000đ, số tiền còn lại sẽ được chuyển sau khi làm xong thủ tục. Sau đó Văn phòng công chứng mang hồ sơ trên đến chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai nộp thì phát hiện Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả. Số tiền 300.000.000 đồng P đã chi tiêu cá nhân hết. 

Trong vụ án này điểm mấu chốt liên quan đến việc xác định hậu quả của hành vi phạm tội đã thiệt hại (tài sản bị chiếm đoạt) là 300.000.000 đồng hay là thiệt hại 1 tỷ đồng để truy tố bị can theo khoản 3 hay khoản 4 của Điều 174 BLHS.

Quan điểm thứ nhất: Theo quy định tại điều 15 Bộ luật Hình sự 2015 về Phạm tội chưa đạt như sau: “Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội. Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt” được hiểu thông qua các dấu hiệu sau:

Thứ nhất, người phạm tội cố ý thực hiện tội phạm: Việc cố ý thực hiện tội phạm thể hiện ở chỗ họ người phạm tội đã bắt đầu thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm;

Thứ hai, người phạm tội không thực hiện tội phạm được đến cùng. Việc không thực hiện được tội phạm đến cùng nghĩa là hành vi của họ chưa thỏa mãn hết các dấu hiệu (thuộc mặt khách quan) của cấu thành tội phạm;

Thứ ba, người phạm tội không thực hiện được tội phạm được đến cùng là do những nguyên nhân ngoài ý muốn của họ như: Nạn nhân hoặc người bị hại đã chống lại được hoặc đã tránh được; do người khác đã ngăn chặn được hoặc có những trở ngại khác…

Tham khảo và vận dụng Mục 2 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP hướng dẫn về phạm tội chưa đạt quy định tại Điều 18 BLHS năm 1999 quy định như sau:

“a.Theo quy định tại Điều 18 Bộ luật hình sự năm 1999 thì tội phạm chưa đạt là trường hợp đã bắt đầu cố ý thực hiện tội phạm, nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người tội phạm. Khác với chuẩn bị phạm tội, thì người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt (bất kỳ tội phạm nào do cố ý). Tuy nhiên, cần chú ý là chỉ khi có đầy đủ căn cứ chứng minh rằng tội phạm mà người phạm tội không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn chủ quan của họ thuộc khoản nào của điều luật tương ứng quy định về tội phạm đó, thì mới áp dụng khoản, điều luật tương ứng đó. Trong trường hợp không xác định được tội phạm mà họ thực hiện không đạt thuộc khoản tăng nặng cụ thể nào của điều luật tương ứng quy định về tội phạm đó, thì áp dụng khoản nhẹ nhất của điều luật tương ứng đó.

b- Trong trường hợp xác định được hành vi vi phạm mà người đó thực hiện không đạt vì những nguyên nhân ngoài ý muốn chủ quan của họ không có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm hoặc trong trường hợp không thể xác định được hành vi vi phạm mà họ thực hiện không đạt đã có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm hay chưa, thì áp dụng khoản 2 Điều 89 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988Điều 18 Bộ luật hình sự năm 1999 tuyên bố bị cáo không phạm tội mà họ đã bị truy tố.

Trong vụ án này hành vi của P đã thỏa mãn mặt khách quan của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. P không thực hiện tội phạm được đến cùng (chiếm đoạt số tiền 1 tỷ đồng) vì bị chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai phát hiện đây là nguyên nhân ngoài ý muốn của bị can. Hành vi sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả là thủ đoạn gian dối để cho anh T tin và tự nguyện giao 300.000.000 đồng cho bị can, số tiền còn lại 700.000.000đ sẽ được giao đầy đủ khi làm xong thủ tục. Như vậy, hành vi phạm tội của bị can là giai đoạn phạm tội chưa đạt. So sánh Điều 139 tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của BLHS năm 1999 và Điều 174 tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của BLHS năm 2015 thì thấy rằng: Cấu thành cơ bản của hai tội là giống nhau về nội dung bằng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Vận dụng bản Kháng nghị Giám đốc thẩm số 51/2014/KN-HS ngày 19/11/2014 của Chánh án Tòa án Tối cao kháng nghị Bản án phúc thẩm hình sự số 66/2014/HSST ngày 30/6/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre có nội dung: Ngày 26/9/2011 tại tiệm cầm đồ Q ở xã S thành phố B.  T có hành vi gian dối khi sử dụng CMND và Đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Minh H giả để cầm xe mô tô biển số 71B1-026.72 cho chủ tiệm cầm đồ là T1 với giá là 20.000.000đ, trong quá trình thực hiện giao dịch thì bị bắt quả tang. Bản án Phúc thẩm nhận định do bị hại (bà T1) chưa bị thiệt hại về tài sản nên hành vi của T chưa đủ cấu thành tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”  mà chỉ cấu thành tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức”. Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao đã hủy bản án Phúc thẩm với nhận định T không thực hiện được tội phạm đến cùng là do bị bắt quả tang (do nguyên nhân ngoài ý muốn của bị cáo), hành vi phạm tội của bị cáo ở giai đoạn phạm tội chưa đạt. Từ những cơ sở trên đối chiếu với hành vi của P trong vụ án (kể cả trong trường hợp P chưa nhận được khoản tiền nào) thì phải truy tố P theo khoản 4 Điều 174 BLHS với số tiền chiếm đoạt là 1 tỷ đồng (phạm tội chưa đạt).    

Quan điểm thứ hai: Theo Điều 127 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Khi một bên tham gia hợp đồng dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng dân sự đó là vô hiệu.

Lừa dối trong hợp đồng dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của hợp đồng dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản -Bộ luật hình sự quy định

1.Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000đ đến dưới 50.000.000đ hoặc dưới 2.000.000đ nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 3 năm.

Thủ đoạn gian dối của Điều 174 và hành vi lừa dối trong giao dịch dân sự có nhiều sự tương đồng, khó phân biệt vì đối tượng đều đưa ra thông tin giả, che dấu mục đích sự thật của giao dịch làm cho bị hại tin tưởng đó là sự thật để tiến hành ký giao kết hợp đồng dân sự và giao tài sản. Quan hệ dân sự chỉ chuyển thành quan hệ hình sự nếu Cơ quan điều tra có căn cứ cho thấy việc nhận được tài sản thông qua thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt. Thủ đoạn gian dối và mục đích chiếm đoạt tài sản phải có trước thời điểm nhận tài sản thì người vay tiền mới phạm tội lừa đảo.

Theo Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015, hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu được quy định như sau:Hợp đồng dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập. Khi hợp đồng dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận… tại thời điểm P ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với anh T thì hợp đồng đã vô hiệu. P phải có nghĩa vụ hoàn trả khoản tiền 300.000.000đ cho anh T. Như vậy tội phạm Lừa đảo chỉ xảy ra khi có thiệt hại vật chất xảy ra, bởi vì hành vi đó được thực hiện trên nền của một giao dịch dân sự. Do đó, thiệt hại xảy ra đến đâu thì truy tố bị can theo khung hình phạt tương ứng của điều luật. Nội dung này được trả lời tại câu số 134 quyển “Tài liệu trao đổi một số vướng mắc trong áp dụng BLHS và BLTTHS” hiện nay. Có quy định tình huống tương tự như trên thì: “trường hợp chưa ký hợp đồng công chứng chưa nhận được tiền thì không phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - Vì tội lừa đảo có cấu thành vật chất” Vì vậy, trong trường hợp này chỉ truy tố P theo khoản 3 Điều 174 BLHS tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 200.000.000đ đến 500.000.000đ. Đối với trường hợp mà T chưa giao tiền cho P thì hành vi của P chưa cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Vụ án hiện còn có nhiều quan điểm còn khác nhau, tác giả rất mong ý kiến trao đổi của các bạn đọc và đồng nghiệp.

Tác giả Nguyễn Minh Tiến- Viện KSND Khu vực 2- Hưng Yên


Thông tin nội bộ