Việc áp dụng BLHS và BLTTHS đối với người chưa thành niên phạm tội trong thời gian vừa qua, ngoài các quyền và nghĩa vụ được BLHS, BLTTHS quy định, thực tế các Cơ quan tiến hành tố tụng cơ bản chỉ chú ý đến việc áp dụng biện pháp tạm giam, thời hạn tạm giam, mức hình phạt, hoặc trường hợp miễn chấp hành hình phạt nhưng buộc chấp hành một thời gian giáo dục tại trường giáo dưỡng.
Luật tư pháp người chưa thành niên (sau đây gọi là Luật TPNCTN) đã được Quốc hội khóa XV, tại Kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 30/11/2024 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2026. Đây là một đạo luật tư pháp đủ nghiêm khắc nhưng cũng bảo đảm sự nhân văn đối với người chưa thành niên (sau đây gọi tắt là NCTN) phạm tội; mục đích là giúp người chưa thành niên thay đổi nhận thức, nhận biết, sửa chữa sai lầm đã gây ra, tự rèn luyện khắc phục, ngăn ngừa nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội và giáo dục họ trở thành công dân có ích cho xã hội; Phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng liên quan đến trẻ em. Luật TPNCTN quy định nhiều nội dung, khái niệm, quy trình xử lý mới…Trong phạm vi giới hạn bài viết này, tác giả khái quát một số nội dung cơ bản liên quan đến những quy định, nguyên tắc, các bước khi các cơ quan tiến hành tố tụng xem xét áp dụng một trong 12 biện pháp xử lý chuyển hướng.
I. Một số nguyên tắc chung:
Phạm vi điều chỉnh Luật LTPNCTN được quy định tại Điều 1 trong đó quy định 04 nội dung đó là : (1) Quy định về xử lý chuyển hướng; (2) Thủ tục tố tụng; (3) thi hành án phạt tù: (4) nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân, gia đình trong hoạt động tư pháp NCTN.
Từ khi Luật TPNCTN có hiệu lực từ ngày 01/01/2026 căn cứ Điều 177 thì toàn bộ Chương XII “Những quy định đối với người dưới 18 tuổi” của BLHS và Chương XXVIII “thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi” của BLTTHS đã được bãi bỏ. Vì vậy, thủ tục tố tụng đối với NCTN phải thực hiện quy định của Luật TPNCTN, ngoài ra còn phải căn cứ vào trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định. Ví dụ trường hợp người chưa thành niên được miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 29 BLHS, hoặc trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc, vụ án vẫn phải theo những quy định chung của BLTTHS.
Nguyên tắc khi giải quyết vụ việc, vụ án có NCTN phải đảm bảo lợi ích tốt nhất, việc giải quyết phải nhanh nhất có thể, hạn chế việc gia hạn và ưu tiên áp dụng thủ tục rút gọn. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ trong trường hợp cần thiết và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích. Việc xử lý phải căn cứ vào tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, độ tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức, hoàn cảnh, đặc điểm tâm sinh lý, sự an toàn của bị hại, cộng đồng, nguyên nhân, điều kiện gây ra tội phạm và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm. Chỉ áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng khi NCTN đã bị khởi tố với tư cách Bị can, Bị cáo và họ có quyền “Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng” điểm a khoản 2 Điều 21.
Theo quy định tại Điều 37 có ba trường hợp có thể áp dụng biện pháp chuyển hướng (nếu không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự). như sau
1. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 38“ Phạm tội rất nghiêm trọng về một trong các tội phạm sau đây: Tội giết người, Tội hiếp dâm, Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, Tội sản xuất trái phép chất ma túy; Phạm tội rất nghiêm trọng 02 lần trở lên hoặc phạm nhiều tội rất nghiêm trọng ; Phạm tội đặc biệt nghiêm trọng” và khoản 3 Điều 38“Người chưa thành niên đã được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng mà phạm tội mới”;
2. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý, phạm tội nghiêm trọng hoặc phạm tội ít nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 38 “Phạm tội nghiêm trọng về một trong các tội phạm sau đây: Tội hiếp dâm, Tội sản xuất trái phép chất ma túy, Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, Tội mua bán trái phép chất ma túy, Tội vận chuyển trái phép chất ma túy, Tội chiếm đoạt chất ma túy; Tái phạm, tái phạm nguy hiểm; Phạm tội nghiêm trọng do cố ý 02 lần trở lên hoặc phạm nhiều tội nghiêm trọng do cố ý; Phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng” và khoản 3 Điều 38 “ Người chưa thành niên đã được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng mà phạm tội mới”;
3. Người chưa thành niên là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án.
II.Các biện pháp xử lý chuyển hướng:
1.Khiển trách Điều 40: Khi thi hành biện pháp này đồng thời phải thực hiện nghĩa vụ quy định tại Điều 23 trong thời hạn từ 03 tháng đến 01 năm đối với:
-Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội nghiêm trọng do vô ý hoặc phạm tội ít nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự;
-Người chưa thành niên là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án.
2. Xin lỗi bị hại Điều 41: Khi thi hành biện pháp này đồng thời phải thực hiện nghĩa vụ quy định tại Điều 23 trong thời hạn từ 03 tháng đến 01 năm đối với:
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp phạm một trong các tội quy định tại điểm a khoản 2 Điều 51“Các trường hợp giáo dục tại trường giáo dưỡng”;
- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp phạm một trong các tội quy định tại điểm b khoản 2 Điều 51 “Các trường hợp giáo dục tại trường giáo dưỡng”;
-Người chưa thành niên là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án.
3. Bồi thường thiệt hại Điều 42: Khi thi hành biện pháp này đồng thời phải thực hiện nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật này từ 03 tháng đến 01 năm đối với:
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp phạm một trong các tội quy định tại điểm a khoản 2 Điều 51 “Các trường hợp giáo dục tại trường giáo dưỡng”;
- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp phạm một trong các tội quy định tại điểm b khoản 2 Điều 51 “Các trường hợp giáo dục tại trường giáo dưỡng”;
- Người chưa thành niên là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án.
4. Giáo dục tại xã, phường, thị trấn Điều 43: Khi thi hành biện pháp này đồng thời thực hiện nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật này là từ 06 tháng đến 02 năm đối với:
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 “Người chưa thành niên là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án” Điều 37 và phạm một trong các tội quy định tại điểm a khoản 2 Điều 51 “Các trường hợp giáo dục tại trường giáo dưỡng”;
- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 37“Người chưa thành niên là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án” và phạm một trong các tội quy định tại điểm b khoản 2 Điều 51 “Các trường hợp giáo dục tại trường giáo dưỡng”.
5. Quản thúc tại gia đình Điều 44: Điều kiện có sự giám sát của gia đình và đồng thời phải thực hiện nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật này là từ 03 tháng đến 01 năm đối với trường hợp sau:
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 37 “Người chưa thành niên là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án” và phạm một trong các tội quy định tại điểm a khoản 2 Điều 51 “Các trường hợp giáo dục tại trường giáo dưỡng”;
- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý; phạm tội nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 37“Người chưa thành niên là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án” và phạm một trong các tội quy định tại điểm b khoản 2 Điều 51 “Các trường hợp giáo dục tại trường giáo dưỡng”.
6. Hạn chế khung giờ đi lại Điều 45: Giới hạn ra khỏi nhà vào khung giờ nhất định từ 18 giờ ngày hôm trước đến 06 giờ sáng ngày hôm sau, trừ trường hợp cần thiết và được người giám sát cho phép. Thời hạn áp dụng từ 03 tháng đến 06 tháng. Biện pháp chuyển hướng này không có giới hạn độ tuổi cũng như tội đã thực hiện.
7. Cấm tiếp xúc với người có nguy cơ dẫn đến người chưa thành niên phạm tội mới Điều 46: Cấm liên lạc, tiếp cận với bị hại, đồng phạm, người có ảnh hưởng tiêu cực đến hành vi có nguy cơ thúc đẩy phạm tội mới. Thời hạn áp dụng từ 06 tháng đến 01 năm.
8. Cấm đến địa điểm có nguy cơ dẫn đến người chưa thành niên phạm tội mới Điều 47: Cấm đến địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, hoặc địa điểm có môi trường tương tự như nơi thực hiện phạm tội có nguy cơ thúc đẩy phạm tội mới. Thời hạn áp dụng từ 06 tháng đến 01 năm.
9. Tham gia chương trình học tập, dạy nghề Điều 48: là việc phải tham gia chương trình học tập pháp luật, đạo đức, nghĩa vụ công dân, kỹ năng ứng xử, kỹ năng sống hoặc học nghề hoặc tại Cơ sở giao dục, cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong thời hạn không quá 01 năm.
10. Tham gia điều trị hoặc tư vấn tâm lý Điều 49:Là việc trị liệu, can thiệp y tế nhằm khắc phục những trở ngại về tinh thần, cảm xúc, tâm trạng, tình trạng sức khỏe là nguyên nhân dẫn tới hành vi phạm tội tại các Cơ sở khám, chữa bệnh trong thời hạn không quá 01 năm
11. Thực hiện công việc phục vụ cộng đồng Điều 50: Là thực hiện công việc trực tiếp phục vụ cho lợi ích cộng đồng như trồng, chăm xóc cây, sửa chữa, làm sạch đường làng, ngõ xóm…hỗ trợ giúp đỡ người cao tuổi, người có hoàn cảnh đặc biệt hoặc hoạt động tình nguyện khác. Tổng thời gian là từ 20 giờ đến 80 giờ. Thời hạn áp dụng không quá 03 tháng.
12.. Giáo dục tại trường giáo dưỡng Điều 51: Là việc buộc người chưa thành niên phạm tội học văn hóa, học nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự quản lý, giáo dục trong một tổ chức giáo dục trong thời hạn từ 06 tháng đến 2 năm cho các trường hợp:
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng về một trong các tội phạm sau đây: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, Tội mua bán người, Tội mua bán người dưới 16 tuổi, Tội cướp tài sản, Tội cướp giật tài sản, Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, Tội vận chuyển trái phép chất ma túy, Tội mua bán trái phép chất ma túy, Tội chiếm đoạt chất ma túy, trừ trường hợp người chưa thành niên là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án;
- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội nghiêm trọng về một trong các tội phạm sau đây: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, Tội cướp giật tài sản, trừ trường hợp người chưa thành niên là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án;
- Các trường hợp khác cần phải áp dụng, do tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, do nhân thân và môi trường sống của người chưa thành niên phạm tội;
- Trường hợp quy định tại khoản 3 “Trường hợp người chuyển hướng vi phạm nghĩa vụ” Điều 82.
III.Thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng.
1. Thẩm quyền Điều 52.
- Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng, trừ trường hợp vụ án có yêu cầu giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc phải giải quyết vấn đề tịch thu tài sản.
- Thẩm phán, Hội đồng xét xử có thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử lý chuyển hướng quy định tại Điều 36 của Luật này.
2.Thủ tục:
Ngay sau khi khởi tố bị can, Cơ quan điều tra phải có văn bản yêu cầu người làm công tác xã hội trong danh sách tham gia tố tụng. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được việc tham gia tố tụng, người làm công tác xã hội phải hoàn thành báo cáo điều tra xã hội về người chưa thành niên gửi cho Cơ quan điều tra
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được thông báo về việc tham gia tố tụng, người làm công tác xã hội phải hoàn thành báo cáo điều tra xã hội về người chưa thành niên là bị can và gửi cho Cơ quan điều tra và đề xuất biện pháp xử lý chuyển hướng. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Cơ quan điều tra nhận được báo cáo điều tra xã hội; trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày Viện kiểm sát nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra đề nghị truy tố, Tòa án nhận được hồ sơ vụ án và bản cáo trạng thì Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát hoặc Thẩm phán phải căn cứ vào quy định tại các điều 35, 37, 38 và 39 của Luật này để ra thông báo áp dụng hoặc không áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng.
- Việc áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng không làm chấm dứt các hoạt động tố tụng cần thiết để giải quyết vụ án. Trường hợp vụ án hình sự đang áp dụng thủ tục rút gọn mà có người chưa thành niên thuộc trường hợp được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng thì các cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định hủy bỏ áp dụng thủ tục tố tụng. Khi ra thông báo không áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật này.
- Trường hợp áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng thì đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can hoặc đình chỉ vụ án đối với bị can được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng đồng thời hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, trả lại tài liệu, đồ vật đã tạm giữ (nếu có), việc xử lý vật chứng và các vấn đề khác có liên quan;
-Trường hợp VKS không đồng ý với Quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp chuyển hướng thì có thể ra Quyết định hủy bỏ yêu cầu áp dụng biện pháp chuyển hướng hoặc không áp dụng biện pháp chuyển hướng trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận quyết định. Khi yêu cầu áp dụng biện pháp chuyển hướng thì phải yêu cầu Cơ quan điều tra mở phiên họp. Hoặc trường hợp nhận hồ sơ vụ án và Kết luận điều tra thì VKS xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng.
-Đối với Tòa án: Áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng trong trường hợp Tòa án nhận được hồ sơ vụ án và bản cáo trạng nếu có người cần phải áp dụng biện pháp giáo dục (Điều 55). Hoặc trong trường hợp Cơ quan điều tra và VKS có văn bản đề nghị.
-Đối với trường hợp người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội khác thì không bị truy cứu về hành vi phạm tội đã bị áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng. (Điều 57)
Các bước xem xét, quyết định biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng:
Bước 1: (Điều 58): Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, người làm công tác xã hội phải xây dựng kế hoạch xử lý chuyển hướng và gửi đến cơ quan đã yêu cầu.
Bước 2: mở phiên họp (Điều 59): Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được kế hoạch xử lý chuyển hướng hoặc kể từ ngày ra thông báo áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng nếu thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều 55 của Luật này, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát hoặc Thẩm phán ra quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng. KSV phải tham gia phiên họp của Cơ quan điều tra. Trước khi tiến hành họp phải ban hành Quyết định và gửi cho các thành phần tham dự.
Bước 3:Phiên họp xem xét, quyết định:
Trong quá trình họp nếu thuộc trường hợp áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc phát sinh yêu cầu giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc phải giải quyết vấn đề tịch thu tài sản thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có văn bản, kèm theo hồ sơ vụ án đề nghị Tòa án xem xét, quyết định.
Xem xét hoãn phiên họp khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: Người phiên dịch vắng mặt mà không có người khác thay thế ngay được; Người chưa thành niên là bị can, người đại diện của họ vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng. Thời hạn hoãn phiên họp là không quá 05 ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn.
Quá trình họp mọi ý kiến của các thành phần tham dự phải được ghi chép đầy đủ trong biên bản
3. Thời hạn chấp hành (Điều 74).
-Thời hạn chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 11 Điều 36 của Luật này được tính từ ngày người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng có mặt tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã để nghe thông báo về việc thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng.
-Thời hạn chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng quy định tại khoản 9 và khoản 10 Điều 36 của Luật này được tính từ ngày cơ sở giáo dục, cơ sở giáo dục nghề nghiệp hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc tổ chức có chức năng điều trị hoặc tư vấn tâm lý tiếp nhận họ.
4.Trường vi phạm nghĩa vụ tại cộng đồng (Điều 82)
-Đối với trường hợp người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng vi phạm nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật này thì người trực tiếp giám sát thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng phối hợp với Công an cấp xã lập biên bản vi phạm. Việc lập biên bản phải có sự tham gia của người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng và người đại diện của họ. Biên bản phải gửi ngay cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã để đề nghị gia hạn thời hạn thực hiện nghĩa vụ hoặc thay đổi biện pháp xử lý chuyển hướng.
- Người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng mà cố ý vi phạm nghĩa vụ 01 lần trong thời gian thực hiện nghĩa vụ thì có thể bị gia hạn thời hạn thực hiện nghĩa vụ, trừ nghĩa vụ bồi thường thiệt hại quy định tại khoản 3 Điều 42 của Luật này.
-Người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng mà cố ý vi phạm nghĩa vụ 01 lần trong thời gian gia hạn thực hiện nghĩa vụ hoặc cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên trong thời gian thực hiện nghĩa vụ thì có thể bị thay đổi từ biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng sang biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng.
-Gia hạn thời hạn thực hiện nghĩa vụ (Điều 83) Việc gia hạn thời hạn thực hiện nghĩa vụ được thực hiện 01 lần như sau:
1. Thời hạn gia hạn đối với người chưa đủ 18 tuổi tại thời điểm vi phạm không quá một phần hai của thời hạn thực hiện nghĩa vụ đã áp dụng;
2. Thời hạn gia hạn đối với người từ đủ 18 tuổi tại thời điểm vi phạm bằng thời hạn thực hiện nghĩa vụ đã áp dụng.
-Thay đổi biện pháp xử lý chuyển hướng (Điều 85)
1. Các trường hợp thay đổi biện pháp xử lý chuyển hướng gồm:
a) Người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng có thể được thay đổi biện pháp xử lý chuyển hướng khác tại cộng đồng nếu xét thấy biện pháp đang áp dụng không phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh khách quan;
b) Người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật này.
2. Việc thay đổi biện pháp xử lý chuyển hướng tại điểm a khoản 1 Điều này được thực hiện 01 lần.
5.Thủ tục thay đổi biện pháp xử lý chuyển hướng (Điều 86)
-Ngay sau khi có căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 85 của Luật này thì người trực tiếp giám sát thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã lập hồ sơ đề nghị thay đổi biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng sang biện pháp xử lý chuyển hướng khác tại cộng đồng và gửi cho cơ quan đã ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng.
- Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát hoặc Thẩm phán Tòa án đã ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng phải xem xét, quyết định thay đổi biện pháp xử lý chuyển hướng. Trường hợp không thay đổi thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ra quyết định và không bị khiếu nại, kiến nghị
Về thủ tục thay đổi biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng sang biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng được thực hiện như các bước nêu trên.
6. Một số khó khăn vướng mắc về nhận thức và áp dụng:
Thứ nhất: Trường hợp áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng và không được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng:
Điều 37. Trường hợp áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng
Người chưa thành niên phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự thì có thể được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng:
1. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 38 của Luật này;
2. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý, phạm tội nghiêm trọng hoặc phạm tội ít nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 38 của Luật này;
3. Người chưa thành niên là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án.
Nghiên cứu kết cấu của các quy phạm pháp luật này và so sánh khoản 1, khoản 2 với khoản 3. Phát sinh ra hai quan điểm xử lý.
Quan điểm thứ nhất: Khi đã có quy định khoản 3 tức là những đối tượng này đã nằm ngoài sự điều chỉnh của khoản 1 và khoản 2 nêu trên. Trong khoản 1 và khoản 2 của điều này đã ghi rõ những trường hợp loại trừ áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng. Nhưng trong thiết kế khoản 3 không loại trừ các trường hợp cấm theo Điều 38, nếu có loại trừ trường hợp cấm thì đã nêu rõ trong quy định của khoản 3. Vì vậy, trường hợp này người chưa thành niên phạm là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng sẽ không bị giới hạn về tất cả các tội đã phạm được quy định tại khoản 1, 2 hay khoản 3 của Điều 38 đó là: phạm tội từ hai lần trở lên; phạm nhiều tội, tái phạm; tái phạm nguy hiểm hoặc đã bị áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng…
Quan điểm thứ hai: Điều 37 quy định trường hợp áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng trong đó có quy định tại khoản 3 là “Người chưa thành niên là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án”. Đây là một quy định chung đối với diện áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng. Còn Điều 38 quy định độc lập, quy định cấm những Trường hợp không được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng, nên khi áp dụng khoản 3 Điều 37 “người chưa thành niên là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án” cần phải xem xét và đối chiếu với quy định cấm của Điều 38. Nếu không áp dụng và so sánh những trường hợp cấm của Điều 38 thì sẽ xảy ra tình trạng xung đột pháp lý bất bình đẳng trong xử lý: Ví dụ người chưa thành niên từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội Sản xuất trái phép chất ma túy, hoặc tái phạm nguy hiểm… thì bị cấm áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng. Nếu cách hiểu áp dụng khoản 3 Điều 37 như quan điểm thứ nhất thì ngay cả trường hợp người chưa thành niên này phạm nhiều tội liền lúc như Hiếp dâm + Sản xuất trái phép chất ma túy + Tàng trữ trái phép chất ma túy + Tái phạm nguy hiểm + các tội đều phạm tội từ 2 lần trở lên… thì vẫn được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng,nên xảy ra tình trạng bất bình đẳng vì người này phạm nhiều tội, mỗi tội là từ 2 lần trở lên và có tái phạm nguy hiểm…mặc dù họ chỉ có vai trò không đáng kể trong vụ án nhưng hậu quả của hành vi phạm nhiều tội đó gây ra cho xã hội lớn hơn. Trong khi trường hợp người chưa thành niên từ 16 đến dưới 18 tuổi chỉ phạm một tội ví dụ như Sản xuất trái phép chất ma túy, hậu quả gây ra cho xã hội lại nhỏ hơn thì không được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng.
Thứ hai: Trường hợp áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng:
Theo quy định tại Điều 36 có 11 trường hợp áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng bao gồm: (1) Khiển trách; (2) Xin lỗi bị hại; (3) Bồi thường thiệt hại; (4) Giáo dục tại xã, phường, thị trấn; (5) Quản thúc tại gia đình; (6) Hạn chế khung giờ đi lại; (7) Cấm tiếp xúc với người có nguy cơ cao dẫn đến người chưa thành niên phạm tội mới; (8) Cấm đến địa điểm có nguy cơ cao dẫn đến người chưa thành niên phạm tội mới; (9) Tham gia chương trình học tập, dậy nghề; (10) Tham gia điều trị hoặc tư vấn tâm lý và (11) Thực hiện công việc phục vụ cộng đồng. Việc áp dụng các biện pháp này sẽ này phát sinh hai quan điểm:
Quan điểm thứ nhất: Về nguyên tắc khi quy định những trường hợp áp dụng biện pháp chuyển hướng sẽ từ nhẹ đến nặng. Bởi vì từ biện pháp xử lý chuyển hướng quy định tại Điều 44- Quản thúc tại gia đình; Điều 45- Hạn chế khung giờ đi lại; Điều 46- Cấm tiếp xúc với người có nguy cơ cao dẫn đến người chưa thành niên phạm tội; Điều 47- Cấm đến địa điểm có nguy cơ cao dẫn đến người chưa thành niên phạm tội mới; Điều 48- Tham gia chương trình học tập, dậy nghề; Điều 49- Tham gia điều trị hoặc tư vấn tâm lý và Điều 50- Thực hiện công việc phục vụ cộng đồng. Những biện pháp xử lý chuyển hướng này đã hạn chế một số quyền của người chưa thành niên phạm tội ở một mức độ về thời gian và công việc nhất định. Điều này hiểu tương tự như Điều 32 - các loại hình phạt trong BLHS quy định đầu tiên là hình phạt Cảnh cáo rồi cuối cùng là hình phạt Tử hình.
Xuất phát từ nguyên tắc được quy định tại Điều 5 của Luật TPNCTN là: “Khi giải quyết vụ việc, vụ án có người chưa thành niên phải đảm bảo lợi ích tốt nhất của họ”. Nên khi giải quyết cần phải xem xét đối chiếu áp dụng các biện pháp nhẹ nhất theo thứ tự ưu tiên từ biện pháp quy định Điều 40, 41, 42, 43, 44. Khi không thỏa mãn những Điều này thì mới áp dụng quy định từ Điều 45; 46; 47; 48; 49 và Điều 50.
Quan điểm thứ hai: Do không có quy định cụ thể phải áp dụng tuần tự các biện pháp xử lý chuyển hướng như thế nào. Mặt khác từ Điều 45 cho đến hết Điều 50 không có giới hạn loại trừ áp dụng về độ tuổi và hành vi phạm tội của của người chưa thành niên. Nên các cơ quan tiến hành tố tụng có thể áp dụng bất cứ một biện pháp xử lý chuyển hướng nếu thấy cần thiết.
Thứ ba: Trường hợp vi phạm nghĩa vụ chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng:
Theo quy định tại Điều 82 đối với trường hợp người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng vi phạm nghĩa vụ quy định tại khoản 1 đối với những trường hợp này phải tiến hành lâp biên bản vi phạm. Việc lập biên bản phải có sự tham gia của người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng và người đại diện của họ. Nhưng thực tiễn họ đã vi phạm đi khỏi địa phương và người đại diện của họ không hợp tác thì theo hướng dẫn này biên bản sẽ không hợp pháp và không có giá trị pháp lý. Nếu không có giá trị thì không thể thay đổi được biện pháp xử lý chuyển hướng, kể cả cũng không thể ra hạn nghĩa vụ chuyển hướng được vì họ đã bỏ đi. Vô hình chung người chấp hành tốt lại không công bằng với người không chấp hành tốt Quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng.
Cũng theo quy định tại Điều 82 quy định: Người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng mà cố ý vi phạm nghĩa vụ 01 lần trong thời gian gia hạn thực hiện nghĩa vụ hoặc cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên trong thời gian thực hiện nghĩa vụ thì có thể bị thay đổi từ biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng sang biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng.
Nhưng thực tế xảy trường hợp tại thời điểm vi phạm nghĩa vụ lần 01 hoặc lần 02 này thì người bị áp dụng biện pháp chuyển hướng đã đủ hoặc trên 18 tuổi thì xử lý thế nào. Trong khi theo quy định tại Điều 35 về nguyên tắc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại khoản 5 quy định “ Không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng nếu tại thời điểm xem xét người phạm tội đã đủ 18 tuổi” và khoản 9 Điều 3 quy định “Thủ tục xử lý chuyển hướng là trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên là bị can, bị cáo theo quy định của Luật này” Như vậy tại thời điểm này cũng không thể thay đổi biện pháp xử lý chuyển hướng với người vi phạm được, và không thể xử lý khi họ vi phạm được.
Hoặc trường hợp nếu họ vi phạm nghĩa vụ lần 01 hoặc lần 02 theo quy định thì họ bị thay đổi biện pháp xử lý chuyển hướng cộng đồng sang chấp hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng thì thời điểm này họ đã đủ 18 tuổi hoặc trường hợp đang mang thai, hoặc phụ nữ hoặc người duy nhất nuôi con nhỏ dưới 26 tháng tuổi thì xử lý thế nào. Trong khi đó theo quy định tại Điều 92 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 được sửa đổi bởi khoản 47 Điều 1 Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi 2020 quy định về đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng chỉ từ đủ 12 tuổi đến dưới 16 tuổi trừ một số trường hợp như: Người đang mang thai có chứng nhận của cơ sở khám bệnh; Phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận. Như vậy kể cả họ vi phạm trong trường hợp này thì không thể đưa họ vào trường giáo dưỡng được.
Theo khoản 1 Điều 94 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 sửa đổi bởi khoản 48 Điều 1 Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi 2020 quy định đối Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc có xử lý một số trường hợp đối với đối tượng vi phạm từ 18 tuổi trở lên thì áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Nhưng những đối tượng này lại nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của Luật Tư pháp người chưa thành niên nên không thể áp dụng được và không có quy định nào điều chỉnh về nội dung này.
Theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 56 thì khi Quyết định áp dung biện pháp xử lý chuyển hướng thì phải Đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can hoặc Đình chỉ vụ án đối với bị can được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng và việc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, trả lai tài liệu, đồ vật đã bị tạm giữ (nếu có), việc xử lý vật chứng và các vấn đề khác có liên quan. Điều 57 quy định “Trường hợp người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội khác thì không bị truy cứu về hành vi phạm tội đã bị áp cụng biện pháp xử lý chuyển hướng”. Điểm đ khoản 1 Điều 177 quy định khi áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng vụ án phải được Đình chỉ điều tra. Nếu trong giai đoạn VKS thì phải Đình chỉ vụ án. Tại thời điểm ban hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng là đúng quy định của pháp luật, không có căn cứ để hủy bỏ.
Thứ tư: Về danh sách người làm công tác xã hội:
Theo quy định Khoản 5 Điều 32 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công bố danh sách người làm công tác xã hội trong hoạt động tư pháp người chưa thành niên tại địa phương. Tuy nhiên cho đến thời điểm hiện tai mặc dù Luật đã có hiệu lực pháp luật nhưng UBND cấp tỉnh chưa công bố danh sách người làm công tác xã hội trong hoạt động tư pháp người chưa thành niên tại các địa phương. Gây ra nhiều khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện Luật TPNCTN.
Thứ năm: Về hệ thống biểu mẫu:
Về hệ thống biểu mẫu, cũng như trong hệ thống thống kê (cả phần mềm và phần cứng) đều chưa có cột mục thống kê loại hình Quyết định áp dụng biện pháp chuyển hướng này, nên gây khó khăn trong công tác thống kê báo cáo.
Trên đây là ý kiến của tác giả, rất mong các ý kiến của bạn đọc và đồng nghiệp cùng trao đổi.
Nguyễn Minh Tiến - Viện kiếm sát nhân dân khu vực 2- Hưng Yên