CHUYÊN MỤC / Nghiên cứu, trao đổi

Nguyễn Văn T có bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

20/07/2026 | 41

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, có tình huống làm phát sinh nhiều quan điểm và hình thức xử lý khác nhau. Tác giả đưa ra một tình huống đã phát sinh thực tế để các bạn đọc cùng đồng nghiệp trao đổi, nâng cao nhận thức cũng như thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn cụ thể:

Tình huống pháp lý: Nguyễn Văn T là phạm nhân tại trại giam C, hiện đang chấp hành bản án “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc trường hợp “Tái phạm”  (Trước đó T đã có một tiền án về tội Trộm cắp tài sản). Ngày 01/06/2026 Nguyễn Văn T đã dùng viên gạch (là hung khí nguy hiểm) gây thương tích cho B (là phạm nhân thi hành án cùng với T) với tỷ lệ tổn hại sức khỏe theo như Kết luận giám định là 02%. Trong quá trình giải quyết vụ việc, B không có đơn đề nghị khởi tố đối với T là hoàn toàn tự nguyện. Đến đây đã phát sinh ra hai quan điểm giải quyết vụ việc:

 

Hình ảnh minh họa Các cơ quan tiến hành tố tụng đang làm việc với bị can

 

Quan điểm thứ nhất:

          Vận dụng câu trả lời số 5 mục I về Hình sự, tố tụng hình sự, thi hành án hình sự và tư pháp người chưa thành niên của Công văn số 250/TANDTC-PC ngày 28 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn 

“5. Tình tiết “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này” quy định tại khoản 1 Điều 306 của Bộ luật Hình sự chỉ được áp dụng cho khoản 1 Điều 306 của Bộ luật Hình sự hay được áp dụng cho tất cả các khoản khác tại Điều 306 của Bộ luật Hình sự?

Trường hợp nêu trên, hậu quả, quy mô của hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự như súng săn, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ được quy định là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự tại khoản 2 và khoản 3 Điều 306 của Bộ luật Hình sự. Trong khi đó, tình tiết “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này” quy định tại khoản 1 Điều 306 của Bộ luật Hình sự không gắn với hậu quả, quy mô tội phạm để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự tại khoản 2 và khoản 3 Điều 306 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, tình tiết định khung hình phạt quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 306 của Bộ luật Hình sự là độc lập, không bắt buộc phải đủ yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 306 của Bộ luật Hình sự mới được áp dụng tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự.”

Đánh giá hành vi của Nguyễn Văn T gây thương tích cho B bằng hung khí nguy hiểm với tỷ lệ tổn hại sức khỏe 02% đây là hành vi nguy hiểm. Hành vi đó đã thỏa mãn một trong mặt khách quan của cấu thành cơ bản trong Điều 134 BLHS. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 BLHS quy định “b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý”. Theo khoa học hình sự thì một người thực hiện hành vi phạm tội, tức là thực hiện một các trong tội phạm mà bộ luật hình sự quy định. Như vậy, tại thời điểm thực hiện hành vi, thì hành vi của T đã cấu thành tội Cố ý gây thương tích quy định tại Điều 134 BLHS. Do T có yếu tố nhân thân là “Tái phạm” nên, lần phạm tội này T đã thỏa mãn tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 134 BLHS. Mặc dù B không có đơn đề nghị khởi tố vụ án thì T vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm d khoản 2 Điều 134 BLHS.

Quan điểm của tác giả: Khi xem xét tình huống này cần phải nắm chắc khoa học pháp lý với những góc độ sau:

          Thứ nhất: Theo Điều 53 BLHS năm 2015 quy định

  1. “Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý…
  2. a)..

b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý”

          Tại các quy định trên đã có một khái niệm cần đặt ra và làm rõ đó là: “Thực hiện hành vi phạm tội” . Mặc dù không có văn bản pháp lý của các cơ quan tư pháp quy định về khái niệm này, nhưng trong khoa học pháp  lý hình sự thì cụm từ  "thực hiện hành vi phạm tội" thường được hiểu là người đó đã thực hiện mặt khách quan của tội phạm được quy định một trong các điều luật, tức là người đó đã thực hiện một trong các hành vi mà luật hình sự quy định là Tội phạm.

Thứ hai: Khoản 1 Điều 134 BLHS có phải là cấu thành cơ bản không?

Không phải mọi khoản 1 của điều luật hình sự đều là cấu thành cơ bản, nhưng trong đa số trường hợp của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), khoản 1 thường quy định cấu thành tội phạm cơ bản.

Vậy Cấu thành cơ bản là gì? Cấu thành tội phạm cơ bản là trường hợp phạm tội có đầy đủ các dấu hiệu điển hình của tội phạm đó, chưa có các tình tiết định khung tăng nặng hoặc giảm nhẹ đặc biệt. Như vậy đối với trường hợp Điều 134 BLHS thì khoản 1 là cấu thành cơ bản các khoản còn lại quy định trường hợp tăng nặng. Còn đối với những trường hợp mà khoản 1 không phải là cấu thành cơ bản trong một số điều luật được thiết kế đặc biệt trong đó Khoản 1 đã bao gồm dấu hiệu định khung nhất định. Hoặc điều luật không chia thành cấu thành cơ bản và cấu thành tăng nặng theo cách thông thường. Chủ yếu thường tập trung về số tội phạm về chức vụ, ma túy. Thông thường thì cách xác định chính xác muốn biết khoản 1 có phải là cấu thành cơ bản hay không khi thỏa mãn hai nội dung: (1) Khoản đó có mô tả đầy đủ hành vi phạm tội thông thường hay không; (2) Các khoản tiếp theo có phải là các trường hợp "phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây..."  

Thứ ba: Căn cứ vào cơ sở pháp lý trên đối chiếu với hành vi của Nguyễn Văn T thì thấy rằng:

Theo khoản 1 Điều 134 BLHS, hành vi của T là hành vi Tội phạm bởi vì T đã dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại 2%. Nên đã thỏa mãn cấu thành cơ bản của khoản 1 Điều 134. Tuy nhiên, theo Điều 155 BLTTHS năm 2015 Tội cố ý gây thương tích thuộc trường hợp chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của bị hại. Đây là một loại tội phạm có điều kiện, tức là khi và chỉ khi bị hại có đơn, thì hành vi của Nguyễn Văn T mới chuyển hóa và được coi là Tội phạm.

Như vậy: Trong trường hợp này bị hại không có đơn, thì hành vi của Nguyễn Văn T không được coi là Tội phạm.  Đã không là tội phạm thì những yếu tố Tái phạm, hay Tái phạm nguy hiểm là những yếu tố liên quan đến nhân thân người phạm tội không đặt ra, vì không đủ điều kiện Tố tụng để khởi tố vụ án.

Trên đây là một số quan điểm, rất mong những ý kiến trao đổi của các bạn đọc và đồng nghiệp.

NGUYỄN MINH TIẾN

VKSND KHU VỰC 2 – HƯNG YÊN


Thông tin nội bộ