CHUYÊN MỤC / Nghiên cứu, trao đổi

Một số vấn đề về xử lý vật chứng trong vụ án hình sự là tài sản bảo đảm của hợp đồng thế chấp tại các tổ chức tín dụng

29/04/2026 | 24

Trong vụ án hình sự, vật chứng là một trong những chứng cứ quan trọng để chứng minh hành vi phạm tội và làm sáng tỏ thêm các tình tiết của vụ án.

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) thì việc Xử lý vật chứng như sau:

-  Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm tàng trữ, lưu hành thì bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy;

-  Vật chứng là tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước;

-  Vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu hủy.

Tuy nhiên thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự đã cho thấy vẫn còn có nhiều khó khăn, vướng mắc về xử lý vật chứng đặc biệt là xử lý vật chứng trong các vụ án mà vật chứng là phương tiện phạm tội, là tài sản bảo đảm của hợp đồng thế chấp. Hiện nay, xử lý tài sản thế chấp là vật chứng trong vụ án hình sự tại các tổ chức tín dụng được thực hiện dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật trong lĩnh vực hình sự, dân sự. Tuy nhiên, trong các bộ luật (Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng hình sự) không quy định về phương thức xử lý vật chứng là tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng mà nội dung này chỉ được quy định và hướng dẫn trong một số văn bản pháp luật khác.

          Theo khoản 1 Điều 299 BLDS 2015, trường hợp đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản bảo đảm. Các phương thức xử lý tài sản bảo đảm được thực hiện theo quy định tại Điều 303 BLDS:

Điều 303. Phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp

1. Bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có quyền thỏa thuận một trong các phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau đây:

a) Bán đấu giá tài sản;

b) Bên nhận bảo đảm tự bán tài sản;

c) Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm;

d) Phương thức khác.

2. Trường hợp không có thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại khoản 1 Điều này thì tài sản được bán đấu giá, trừ trường hợp luật có quy định khác.

Theo Điều 14 Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về việc thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng, sau khi hoàn tất thủ tục xác định chứng cứ và xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án, cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm hoàn trả vật chứng trong vụ án hình sự là tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu theo đề nghị của bên nhận bảo đảm là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu. Còn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, vật chứng có liên quan tới quá trình giải quyết vụ án cần niêm phong trong quá trình giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Như vậy, việc “xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án” của cơ quan tiến hành tố tụng còn mang tính nguyên tắc và tùy nghi, có hoàn trả vật chứng là tài sản bảo đảm cho các tổ chức tín dụng không, hoàn trả khi nào sẽ phụ thuộc vào quan điểm, đánh giá của từng cơ quan tiến hành tố tụng trong từng giai đoạn tố tụng.

Theo Công văn số 2160/VKSTC-V14 ngày 05/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao việc giải đáp một số khó khăn, vướng mắc liên quan đến quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Thi hành tạm giữ và Thi hành án hình sự “1.1. Theo quy định tại khoản 9 Điều 21 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật dân sự (BLDS) về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ: “Trường hợp tài sản bảo đảm bị tiêu hủy, bị tổn thất toàn bộ hoặc bị phá dỡ, bị tịch thu theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì được xác định là không còn tài sản bảo đảm…”. Và quy định tại khoản 3 Điều 49 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP nêu trên thì “Trường hợp BLDS, luật khác liên quan quy định tài sản đang dùng để bảo đảm phải xử lý để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác thì tài sản này được xử lý theo quy định đó”. Như vậy, trường hợp bị can sử dụng tài sản đang thế chấp tại ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng vào việc phạm tội thì việc xử lý tài sản thực hiện theo quy định Điều 47 Bộ luật hình sự, Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tức là bị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước hoặc tịch thu tiêu hủy. Quyền lợi của ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng được giải quyết theo quy định về khởi kiện vụ án dân sự”.

Như vậy, theo hướng dẫn tại Công văn số 2160/VKSTC-V14 ngày 05/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì đối với vật chứng là phương tiện phạm tội, việc thế chấp không làm mất đi quyền sở hữu của bị can khi bị can dùng làm phương tiện phạm tội. Do đó quyền lợi của tổ chức tín dụng (bên nhận thế chấp) được giải quyết theo quy định về khởi kiện vụ án dân sự. Tuy nhiên, việc xử lý vật chứng theo hướng dẫn này đảm bảo theo quy định của BLTTHS về xử lý vật chứng nhưng lại chưa đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của bên nhận thế chấp.

Trong thực tiễn xét xử, sau khi Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Công văn số 2160/VKSTC-V14 giải đáp vướng mắc thì vẫn có nhiều quan điểm khác nhau của cơ quan tiến hành tố tụng giữa các địa phương và các cấp xét xử. Ví dụ trong vụ án cụ thể sau:

Khoảng 03 giờ ngày 06/2/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma túy Công an huyện T phối hợp với Đồn biên phòng A tuần tra phát hiện xe ô tô tải BKS 95C-02*.*8 do anh P điều khiển cùng N đi từ vành đai biên giới Việt Nam – Campuchia về thôn C, xã G, huyện T có biểu hiện nghi vấn, lực lượng chức năng yêu cầu dừng phương tiện kiểm tra phát hiện trên xe có 77 con heo (gồm 52 con heo sống, khối lượng 4.229kg; 25 con heo chết, khối lượng 2.439 kg Tổng giá trị 299.511.000 đồng) nên đưa về trụ sở làm việc. Qua làm việc, P khai số lượng heo trên là của G thuê P chở và không xuất trình được giấy tờ liên quan. Qua điều tra xác định: Trước ngày bắt quả tang, G liên lạc mua thịt heo của người tên S (không rõ nhân thân), không khai báo, sau đó thuê H (không rõ nhân thân) và P kiểm hàng và lái xe đem heo từ Campuchia về Việt Nam bán kiếm lời.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2023/HSST ngày 30/11/2023, TAND huyện T xử phạt bị cáo G 09 tháng tù về tội Buôn lậu theo khoản 1 Điều 188 BLHS.

Về xử lý vật chứng: Tuyên bố tịch thu 01 xe ô tô BKS 95C-02*.*8 (đã qua sử dụng) và giấy tờ xe mang tên chủ xe Võ Văn G để sung vào ngân sách Nhà nước.

Ngày 12/12/2023 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng TVBank có đơn kháng cáo nội dung yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét trả lại chiếc ô tô BKS 95C-02*.*8 đứng tên G do tài sản đang thế chấp vay ngân hàng để thu hồi nợ vay, đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của bị cáo đối với Ngân hàng.

Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 19/2024/HSPT ngày 19/2/2024, TAND tỉnh A quyết định xử lý vật chứng như sau: Trả lại 01 xe ô tô BKS 95C-02*.*8 và giấy tờ xe cho bị cáo G.

Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 190/QĐ-VC3-V1 ngày 29/7/2024, Viện trưởng VKSND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị Bản án hình sự phúc thẩm số 19/2014/HSPT ngày 19/2/2024 của TAND tỉnh A, đề nghị xét xử giám đốc thẩm hủy Bản án hình sự phúc thẩm nêu trên về phần xử lý vật chứng và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm về phần xử lý vật chứng. Tuy nhiên, tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện VKS thay đổi nội dung kháng nghị theo hướng hủy một phần Bản án hình sự phúc thẩm về phần xử lý vật chứng, giao hồ sơ về cho TAND tỉnh A xét xử phúc thẩm lại với lý do: Xe ô tô BKS 95C-02*.*8 do G là chủ sở hữu đang thế chấp hợp pháp tại Ngân hàng TV Bank, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng, cần tuyên giao xe ô tô cho Ngân hàng và Cơ quan Thi hành án dân sự cùng đại diện gia đình bị cáo G tiến hành thanh lý hợp đồng tín dụng (có thế chấp xe ô tô trên) bán đấu giá xe ô tô lấy tiền thu hồi nợ gốc, lãi cho Ngân hàng, số tiền còn lại (nếu có) tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Trong vụ án này, vật chứng của vụ án là xe ô tô của bị cáo sử dụng để vận chuyển hàng lậu. Tuy nhiên, tại thời điểm bị cáo sử dụng xe làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội thì tài sản này đã được bị cáo thế chấp cho Ngân hàng làm tài sản bảo đảm để vay tiền theo Hợp đồng tín dụng. Việc thế chấp tài sản và hợp đồng tín dụng vẫn còn thời hạn và đang có hiệu lực. Tại giai đoạn xét xử, bị cáo G vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng như thỏa thuận trong hợp đồng.

 Hội đồng giám đốc thẩm chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thảm và thay đổi nội dung kháng nghị tại phiên tòa của Viện trưởng VKSND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, hủy một phần Bản án hình sự phúc thẩm về phần xử lý vật chứng, giao hồ sơ về cho TAND tỉnh A xét xử phúc thẩm lại về phần xử lý vật chứng.

Như vậy, trong cùng một vụ án mà quan điểm về việc xử lý vật chứng trong trường hợp này của Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm là không giống nhau. Điều này xuất phát từ chính các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến việc xử lý vật chứng trong trường hợp này là cụ thể, chưa rõ ràng dẫn đến còn nhiều cách hiểu khác nhau, nên cần thiết phải có hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật về việc xử lý vật chứng trong trường hợp này.

Theo quan điểm của tác giả, trường hợp bị cáo dùng xe ô tô của mình làm tài sản bảo đảm để vay tiền tại tại tổ chức tín dụng và được tổ chức tín dụng giao xe ô tô để sử dụng, sau đó bị cáo sử dụng xe ô tô này làm phương tiện phạm tội thì Toà án xác định xe ô tô vẫn là tài sản bảo đảm và giao xe cho tổ chức tín dụng và Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền để tiến hành thanh lý hợp đồng tín dụng, bán đấu giá xe ô tô để thu hồi nợ gốc, lãi cho tổ chức tín dụng, số tiền còn lại (nếu có) tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là phương án hợp lý, bảo đảm được quyền lợi của các bên, phù hợp với quy định pháp luật hiện hành.

Trên đây là quan điểm về thực tiễn xử lý vật chứng là phương tiện phạm tội là tài sản bảo đảm của hợp đồng thế chấp trong vụ án hình sự, vấn đề đặt ra là xử lý vật chứng trong trường hợp này như thế nào cần được hướng dẫn cụ thể để vừa đảm bảo đúng quy định của BLTTHS và vừa đảm bảo quyền lợi của các chủ thể có liên quan. Chính vì vậy, liên ngành tư pháp Trung ương cần có sự thống nhất và có văn bản hướng dẫn chung trong việc xử lý vật chứng là tài sản bảo đảm sao cho thấu đáo, hợp lý, bảo đảm được tính công bằng về quyền và lợi ích chính đáng của các bên có liên quan.

                   Quỳnh Huệ - VKSND khu vực 6, Hưng Yên


Thông tin nội bộ