CHUYÊN MỤC / Tin trong ngành

Kinh nghiệm Kiểm sát điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt bị can, bị cáo

12/02/2026 | 14

Trong tố tụng hình sự, sự có mặt của bị can, bị cáo là nguyên tắc quan trọng nhằm đảo bảm các quyền (đặc biệt là quyền bào chữa) và làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy có nhiều trường hợp bị can, bị cáo cố tình trốn tránh, ở nước ngoài và việc truy nã không có kết quả hoặc không thể tham gia tố tụng vì lý do khách quan, gây khó khăn trong việc xử lý vụ án.

Để đảm bảo tính liên tục, hiệu quả của hoạt động tố tụng hình sự, công lý được thực thi ngay cả khi đối tượng phạm tội lẩn trốn, không hợp tác, ngăn chặn việc trì hoãn hoặc đình trệ vụ án, dẫn đến phải tách vụ án, tách bị can  nếu bắt được bị can, bị cáo thì lại phải phải phục hồi, kết luận điều tra, truy tố và xét xử gây hiện tượng tốn kém, lãng phí ngân sách nhà nước. Chính vì vậy, Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 (sau đây gọi tắt là BLTTHS) và Thông tư liên tịch số 05/2025/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC quy định về phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt bị can, bị cáo (có hiệu lực từ ngày 01/7/2025) đã quy định về việc kết luận điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt bị can, bị cáo dựa trên nguyên tắc: Tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo… chỉ kết luận điều tra, quyết định truy tố, xét xử vắng mặt bị can, bị cáo khi thuộc các trường hợp và đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và TTLT số 05/2025. Quy định này thể hiện sự cân bằng giữa yêu cầu xử lý nghiêm minh tội phạm và bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự.

Ngay sau khi Bộ luật tố tụng hình sự và TTLT số 05/2025 có hiệu lực, Viện kiểm sát nhân khu vực 2 - Hưng Yên đã tiến hành rà soát 100% các vụ án hình sự tạm đình chỉ do bị can bỏ trốn (04 vụ án/ 04 bị can), đồng thời yêu cầu Cơ quan điều tra phục hồi điều tra 02 vụ án/ 02 bị can để thực hiện kết luận điều tra vắng mặt bị can theo quy định. Đến nay, cả 02 vụ án trên đã đưa ra xét xử, các trình tự thủ tục về thông báo quyền bào chữa, tống đạt, giao, niêm yết các quyết định tố tụng đều được thực hiện đảm bảo, đúng quy định. Quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, truy tố, xét xử các vụ án trên, Kiểm sát viên rút ra một số kinh nghiệm xin trao đổi như sau:

1. Các trường hợp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án ban hành kết luận điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt bị can, bị cáo (quy định tại khoản 2 Điều 233, khoản 2 Điều 243 và khoản 2 Điều 290 BLTTHS và Điều 4 TTLT 05/2025):

a) Bị can, bị cáo trốn hoặc không biết bị can, bị cáo ở đâu và việc truy nã không có kết quả;

b) Bị can, bị cáo đang ở nước ngoài mà không thể triệu tập để phục vụ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử;

Đối với Tòa án còn có thêm 02 trường hợp có thể xét xử vắng mặt bị cáo là:

- Bị cáo đề nghị xét xử vắng mặt và được Hội đồng xét xử chấp nhận;

- Nếu sự vắng mặt của bị cáo không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan và sự vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử.

 

Hình ảnh phiên tòa xét xử vắng mặt bị cáo

2. Điều kiện để kết luận điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt (khoản 2 Điều 4 TTLT số 05/2025):

Bên cạnh việc quy định các cơ quan tiến hành tố tụng phải thu thập đủ chứng cứ, tài liệu để làm rõ các vấn đề phải chứng minh trong vụ án theo quy định tại Điều 85 BLTTHS và đủ căn cứ xác định bị can, bị cáo đã thực hiện tội phạm bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử thì còn phải đảm bảo quyền bào chữa cho bị can, bị cáo vắng mặt theo quy định tại các điều 16, 291, 351 và Chương V của BLTTHS, cơ quan tiến hành tố tụng phải thông báo về quyền nhờ người bào chữa cho người đại diện hoặc người thân thích của bị can, bị cáo để họ nhờ người bào chữa. Trường hợp người đại diện hoặc người thân thích của bị can, bị cáo không nhờ người bào chữa thì cơ quan tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho bị can, bị cáo vắng mặt theo quy định tại Điều 76 của BLTTHS.

Mặc dù Điều 76 BLTTHS không quy định bị can, bị cáo vắng mặt khi kết luận điều tra, truy tố, xét xử thuộc trường hợp được chỉ định người bào chữa nhưng tại điểm b khoản 2 Điều 4 TTLT số 05/2025 quy định cơ quan tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho bị can, bị cáo vắng mặt để đảm bảo tối đa quyền con người cho các đối tượng trên. Do vậy khi thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử đối với các vụ án trên, Kiểm sát viên cần lưu ý để yêu cầu các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện đúng và đầy đủ. Bởi nếu không thực hiện đủ các điều kiện trên sẽ là căn cứ để Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung (khoản 4 Điều 7 TTLT số 05/2025).

3. Thủ tục tiến hành kết luận điều tra, truy tố, xét xử bị can, bị cáo vắng mặt (Điều 5, 6, 7 TTLT 05/2025):

- Chậm nhất 20 ngày trước khi kết thúc điều tra vụ án có bị can vắng mặt, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát phải phối hợp, tổ chức họp thống nhất đánh giá toàn bộ chứng cứ, tài liệu và các thủ tục tố tụng vụ án để xem có đủ căn cứ, điều kiện kết thúc điều tra vụ án không. Biên bản thống nhất đánh giá chứng trên phải đưa vào hồ sơ vụ án. (Khoản 2 Điều 5 TTLT 05/2025).

- Đối với Viện kiểm sát và Tòa án, sau khi nhận hồ sơ vắng mặt bị can cần tiến hành các hoạt động và xác định trường hợp, điều kiện đảm bảo quy định tại khoản 2 Điều 243, điểm a khoản 2 Điều 290 BLTTHS và Điều 4 TTLT 05/2025 để ban hành cáo trạng hoặc quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Nếu đến giai đoạn truy tố hoặc xét xử bị can, bị cáo mới bỏ trốn thì Viện kiểm sát, Tòa án đề nghị Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã bị can, bị cáo. Nếu hết thời hạn truy tố mà việc truy nã không có kết quả thì Viện kiểm sát xem xét quyết định truy tố vắng mặt bị can. Nếu sau khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử bị cáo mới bỏ trốn thì Hội đồng xét xử tạm đình chỉ vụ án và yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã. Hết thời hạn 15 ngày kể từ ngày có quyết định truy nã mà việc truy nã không có kết quả thì Cơ quan điều tra phải thông báo cho Tòa án biết để xem xét, quyết định phục hồi vụ án và quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị cáo theo quy định.

4. Việc cấp, giao, chuyển, gửi, niêm yết, thông báo các lệnh, quyết định, văn bản tố tụng (Điều 137, 138, 140, 141, 142, khoản 3 Điều 323, khoản 3 Điều 243, khoản 1 Điều 262, khoản 1 Điều 286 BLTTHS; Điều 8 TTLT 05/2025):

Đây cũng là một trong các nội dung rất quan trọng để đảm bảo tính công khai, minh bạch và quyền của bị can, bị cáo.

Nếu không giao được cho bị can, bị cáo kết luận điều tra, cáo trạng, quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc bản án thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải thực hiện việc niêm yết công khai các văn bản tố tụng này tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cuối cùng bị can, bị cáo cư trú hoặc cơ quan, tổ chức cuối cùng bị can, bị cáo làm việc, học tập. Thời hạn niêm yết là 15 ngày kể từ ngày niêm yết (Điều 140 BLTTHS).

Kinh nghiệm thực tiễn: Việc không giao được các quyết định tố tụng cho bị can, bị cáo phải được thể hiện bằng biên bản lưu vào hồ sơ vụ án và đây chính là căn cứ để thực hiện việc niêm yết. Do vậy mặc dù biết việc truy nã không có kết quả, tuy nhiên các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn phải đến địa phương nơi bị can, bị cáo cư trú cuối cùng để làm việc với gia đình bị can, bị cáo và chính quyền địa phương để ghi nhận sự vắng mặt và không giao được quyết định tố tụng cho bị can, bị cáo.

Nếu việc niêm yết công khai không có kết quả, căn cứ vào khoản 1 Điều 141 BLTTHS sửa đổi bổ sung năm 2025 quy định “Việc thông báo văn bản tố tụng trên các phương tiện thông tin đại chúng, qua nền tảng số, phầm mềm ứng dụng dùng chung triển khai tại Trung tâm dữ liệu quốc gia, cổng thông tin hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan tiến hành tố tụng được thực hiện khi việc niêm yết công khai không có kết quả hoặc các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

2. Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng được đăng trên báo hàng ngày của trung ương trong 03 số liên tiếp và phát sóng trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp”.

 Một vấn đề nảy sinh có nhiều quan điểm khác nhau việc đăng tải thông tin:

Quan điểm thứ nhất: Các cơ quan tiến hành tố tụng cần phải thực hiện việc đăng thông báo trên tất cả hình thức thông tin trên một cách đầy đủ.

Quan điểm thứ hai: Về mặt cấu trúc ngữ pháp của điều luật thì các hình thức đăng tải thông tin được ngăn cách bằng dấu Phẩy. Theo ngữ pháp tiếng Việt, dấu phẩy được dùng để tách các vế câu ghép hoặc dùng để ngăn cách các thành phần phụ của câu với thành phần chính (thành phần chính ở đây là Thủ tục thông báo của các cơ quan tiến hành tố tụng). Do đó các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ cần đăng tải một trong các hình thức trên là đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Thông thường thực tiễn thì các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ đăng tải trên thông tin đại chúng.

5. Vấn đề truy nã:

          Quá trình điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt bị can đều thực hiện khi việc truy nã không có kết quả. Như vậy trong các giai đoạn này Cơ quan điều tra đều đã ra quyết định truy nã đối với bị can, bị cáo. Vậy sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, tư cách của bị can, bị cáo đã chuyển thành người phải đi thi hành án. Lúc này bị cáo vẫn không có mặt để đi thi hành án thì có phải ra quyết định truy nã nữa hay không.

Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 13/2012/TTLT - BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 09/10/2013 hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Luật thi hành án hình sự về truy nã năm 2010, tại khoản 3 Điều 9 “truy nã trong giai đoạn xét xử” đã quy định trường hợp Tòa án có thể xét xử vắng mặt bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 187 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 9 Thông tư liên tịch số 13 quy định: “Trường hợp Tòa án đã yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can, bị cáo thì khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, Tòa án không phải yêu cầu Cơ quan điều tra tiếp tục ra quyết định truy nã mới”. Như vậy, áp dụng tinh thần điều luật nêu trên thì dù Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã trong giai đoạn điều tra, truy tố hay xét xử thì sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, Tòa án không phải yêu cầu Cơ quan điều tra tiếp tục ra quyết định truy nã mới.

Trên đây là một số kinh nghiệm của Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, truy tố, xét xử vắng bị can, bị cáo. Rất mong nhận được sự đóng góp và trao đổi nghiệp vụ của các bạn đọc và quý đồng nghiệp.

                                      Đặng Hiền Dung - VKSND Khu vực 2 Hưng Yên


Thông tin nội bộ